Tham luận tại hội thảo” Dự ánCảng Hàng không quốc tế Long thành- một cách nhìn khách quan trung thực và xây dựng”

Đăng lúc: Thứ hai - 08/06/2015 02:26 - Người đăng bài viết: admin
Hội khoa học và Công nghệ Hàng không Việt nam (KH&CN HKVN) bảo lưu ý kiến đã báo cáo nhiều lần với Quốc hội (QH), Chính phủ (CP), Bộ Giao thông vận tải GTVT), Cục Hàng không Việt nam (HKVN) và Tổng công ty Cảng Hàng không Việt nam (ACV).
HỘI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ                               CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
       HÀNG KHÔNG VIỆT NAM                                                          Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Số:               /VAAST-VP
       ----------------                                                                                      ----------------------------------
V/v Ý kiến về Dự án đầu tư
 Cảng HKQT Long Thành         
                                                      Hà Nội, ngày 10 tháng  5 năm 2015
 
Tham luận tại hội thảo” Dự ánCảng Hàng không quốc tế Long thành- một cách nhìn khách quan trung thực và xây dựng”
                                          Ngày 15-5-2015 tại Khách sạn Rex- TP. Hồ Chí Minh
 
Trong tham luận lần này, Hội khoa học và công nghệ hàng không Việt nam xin có ý kiến như sau:
  1. Về tính cấp thiết của việc xây dựng CHK QT Long Thành:
Hội khoa học và Công nghệ Hàng không Việt nam (KH&CN HKVN) bảo lưu ý kiến đã báo cáo nhiều lần với Quốc hội (QH), Chính phủ (CP), Bộ Giao thông vận tải GTVT), Cục Hàng không Việt nam (HKVN) và Tổng công ty Cảng Hàng không Việt nam (ACV). Ý kiến đó là việc đầu tư xây dựng CHKQT Long Thành là rất cần thiết và đã hơi muộn; cần phải khẩn trương triển khai mọi thủ tục cần thiết cho nhiệm vụ quan trọng mang tầm chiến lược này của đất nước.  Bởi vì:
1.CHKQT Long Thành đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt trong Quy hoạch mạng CHK Việt Nam từ năm 1997 tại Quyết định số 911/1997/QĐ-TTg ngày 24/10/1997. Đây là bản qui hoạch được tổ chức triển khai rất nghiêm túc, khách quan, khoa học của Tổng cục HKVN và bộ tư lệnh không quân trong 5 năm từ 1992 đến 1997 và đã được Hội đồng thẩm định Quốc gia làm việc trong 2 tháng trước lúc trình Chính phủ phê duyệt. Đó là kết quả làm việc của 37 tổ chức nghiên cứu chiến lược, nghiên cứu triển khai, các cơ quan, đơn vị và 67 nhà khoa học hàng đầu của Việt nam trong lĩnh vực Hàng không và các lĩnh vực liên quan. Bản qui hoạch này cũng được 2 Giáo sư , Tiến sỹ khoa học - viện sỹ viện hàn lâm khoa học Liên bang Nga trước đây tại viện GTVT Ukraina tham gia thẩm định và đóng góp ý kiến. Chúng tôi coi đây là một công trình khoa học công phu nhất, có tính lý luận và thực tiễn cao nhất từ trước đến nay về qui hoạch hệ thống CHK, SB Việt nam. Các kết quả của nó đã trở thành căn cứ có pháp lý làm căn cứ cho công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch 5 năm, hàng năm của ngành HKVN trong suốt thời gian qua.
Sự đúng đắn của bản Qui hoạch này đã được tiếp tục được khẳng định tại Quyết định số 21/QĐ-TTg ngày 08/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ v/v Quy hoạch phát triển giao thông vận tải hàng không giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Trong các Quyết định này Cảng HKQT Long thành đều được đánh giá ở mức ưu tiên đầu tư xây dựng và được xác định là CHKQT lớn nhất Việt nam và là CHKQT trung chuyển của khu vực và thế giới.
Kết quả đề án qui hoạch: Đề án đã khảo sát đánh giá hiện trạng, dự báo nhu cầu phát triển, qui hoạch toàn mạng, qui hoạch định hướng một số CHK, SB quan trọng, đưa ra kế hoạch đầu tư xây dựng, phân kỳ đầu tư theo tiến độ thời gian cho toàn hệ thống CHK, SB Việt nam, đưa ra các kiến nghị: lập đăng bạ sân bay, xây dựng cơ sở dữ liệu CHK, SB , đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, qui trình qui phạm … Theo kế hoạch triển khai thực hiện qui hoạch thì năm 2005 CHKQT Long thành đạt công suất vận chuyển 1,5 triệu hành khách/năm.
Như vậy cả về nhu cầu thực tế và cơ sở pháp lý đã có, việc đầu tư xây dựng CHKQT Long thành là cầp thiết mang tầm chiến lược đã được tính toán cân nhắc thận trọng từ hơn chục năm trước.
Cần nói thêm là khi tiếp quản Nha hàng không Việt nam, tài liệu cũ cho thấy chính người Mỹ đã giúp đỡ chính quyền Sài gòn khảo sát, thiết kế qui hoạch sân bay Long thành từ cuối năm 1973 đầu năm 1974 để triển khai xây dựng vào năm 1975 nhưng vì chiến sự căng thẳng nên kế hoạch đó đã không thành. Điều đó cho thấy nhu cầu xây dựng CHK Long thành là rất thực tế từ những thập kỷ 70 của thế kỷ trước xét từ nhiều phía.
2. Trong tình hình mới hiện nay, khi mà Việt nam đang đứng trước những vận hội lớn: Hiệp định xuyên Thái bình dương TPP đang đàm phán sắp được ký kết vào cuối năm nay; Hiệp định  kinh tế với khối cộng đồng chung châu Âu mà Việt nam đang được ưu tiên; Hiệp định Kinh tế Á-Âu với Nga đang gấp rút chuẩn bị ký kết; hiệp định thương mại Việt Nam- Hàn Quốc vừa được ký kết... các nhà đầu tư quốc tế đang ồ ạt tìm đến Việt Nam để đầu tư sinh lợi…thì nhu cầu đầu tư xây dựng CHKQT Long thành lại càng cấp thiết hơn bao giờ hết.
Căn cứ theo các quyết định nêu trên, thực tế phát triển của ngành HKVN và nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước hiện nay thì việc đầu tư xây dựng CHKQT Long Thành là rất cần thiết cần phải khẩn trương triển khai vì đã hơi muộn.
(Xin xem các tài liệu tham khảo kèm theo tại phụ lục số 1).
  1. Tại sao vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau ?
Như chúng ta đã biết, mặc dù các cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ bản đã khá rõ ràng, các căn cứ pháp lý đã tương đối đầy đủ nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến từ băn khoăn, lo lắng đến phản đối, có ý kiến kịch liệt phản đối dự án đầu tư xây dựng CHKQT Long thành. Tại sao? Theo chúng tôi, nhìn thẳng vào sự thật thì có các nguyên nhân sau đây:
1.   Công tác kiểm tra, xử lý việc thực hiện triển khai qui hoạch các ngành kinh tế quốc dân nói chung của cả nước trong một thời gian dài vừa qua đã không được duy trì nghiêm túc, nhiều mảng qui hoạch bị phá vỡ một cách tùy tiện từ công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp đến khai thác khoáng sản, du lịch, sản xuất xi măng, sắt thép… Ngành GTVT nói chung và chuyên ngành HKDDVN cũng không tránh khỏi thực tế chung đó. Hiện tượng các tỉnh đều muốn có CHK, SB, tư duy nhiệm kỳ, cục bộ địa phương, lợi ích nhóm, cơ chế xin cho…đã dẫn đến một số các CHK, SB đã được đưa vào đầu tư xây dựng không theo đúng trình tự phân cấp đầu tư theo qui hoạch được Chính phủ phê duyệt. Ví dụ như CHK Cần thơ đã được đầu tư xây dựng trước Long thành là chưa theo đúng như qui hoạch đề ra. (Theo qui hoạch thì CHKQT Long thành được xếp mức ưu tiên trước CHK Cần thơ nhưng thực tế là Cần thơ đã được đầu tư xây dựng trước!). Cộng vào đó là các ngành kinh tế khác liên quan cũng có tình trạng qui hoạch bị phá vỡ tương tự như vậy đã tác động thêm vào làm cho việc khai thác vận tải Hàng không tại các nơi mới đầu tư xây dựng chưa mang đến hiệu quả rõ rệt, thậm chí có CHK, SB đầu tư rất lớn theo tiêu chuẩn quốc tế nhưng khai thác với hiệu quả thấp trông thấy như Cần thơ.  Đó là một thực tế !
2. Trong lúc đó hiện tượng một số CHK, SB bị lấn chiếm làm sân goal, dịch vụ nhà nghỉ, các dịch vụ khác…khá trầm trọng càng gây bức xúc trong dư luận xã hội.  Vì lý do nói trên đến nay nghe tin đầu tư xây dựng CHKQT Long thành thì lập tức đã gây hiệu ứng không thuận lợi. Đó là phản ứng rất tự nhiên của người dân. Bên cạnh đó công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho cộng đồng đã không được tiến hành thường xuyên, liên tục với mức độ cần thiết tối thiểu. Người dân thiếu thông tin trầm trọng. Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác rất đa dạng và phức tạp mà mọi người đều biết nhưng cũng không nhất thiết phải nói ra tại hội thảo này! Cọng vào đó là một số khó khăn của đất nước như nợ xấu, nợ công…Tất cả những thứ đó đã quện lại với nhau tạo thành lực cản khá lớn trong tình cảm, tư duy và nhận thức của một bộ phận dân chúng đối với việc đầu tư xây dựng CHKQT TC Long thành.
 Đó là lý do chính vì sao việc đầu tư xây dựng CHKQT Long thành chưa nhận được sự đồng thuận cao trong xã hội.
3. Cần thiết có cách nhìn khách quan, trung thực và xây dựng:
Tuy nhiên chúng ta không thể vì cái sai đã xẩy ra trong quá khứ để giải quyết sai bài toán hiện tại và tương lai của đất nước. Đây là hai vấn đề khác nhau đòi hỏi các cấp lãnh đạo phải xử lý một cách tỉnh táo và sáng suốt! Một đất nước có vị trí địa chính trị chiến lược quan trọng nằm trên trục các đường bay quốc tế Đông –Tây, Nam-Bắc với tần suất cao, nằm trong khu vực có dự báo mức tăng trưởng vận tải hàng không cao nhất thế giới trong thế kỷ 21, một trung tâm văn hóa. du lịch, thương mại… lớn của khu vực và thế giới như thế mà chưa có một CHKQT TC là một thiệt thòi lớn trong nhiều mặt trước thế giới.
Trong tình hình dư luận, thông tin đa chiều rất phức tạp như vậy, chúng ta rất phấn khởi và tin tưởng khi được nghe kết luận của BCH TƯ Đảng trong kỳ họp vừa qua về đầu tư xây dựng CHKQT Long thành:“Trung ương tiếp tục khẳng định sự cần thiết, đúng đắn của chủ trương đầu tư xây dựng Cảng hàng không trung chuyển quốc tế Long Thành; coi đây là dự án đặc biệt quan trọng cấp quốc gia, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”.
Trung ương yêu cầu trong quá trình nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện Dự án, cần lưu ý xác định rõ những tiêu chí, điều kiện tiền đề để trở thành một cảng trung chuyển hàng không quốc tế trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các sân bay trung chuyển quốc tế trong khu vực Đông Nam Á. Tính toán kỹ hiệu quả đầu tư, lộ trình, phân kỳ đầu tư sao cho khả thi, phù hợp với tình hình phát triển của ngành hàng không Việt Nam và khả năng huy động nguồn lực cho đầu tư, phát triển”
Đó là kết luận đúng đắn và sáng suốt với cách nhìn khách quan, trung thực và xây dựng!
  1. Về tư vấn, phản biện, đánh giá dự án:
1.Cần thiết làm tốt công tác tư vấn, phản biện:
Mặc dù việc đầu tư xây dựng CHKQT Long thành là cần thiết, tuy nhiên, trong hiện trạng kinh tế, việc đầu tư cũng là một bài toán khó về nhiều mặt, nhất là về mặt kinh phí. Để giúp cho quá trình xây dựng luận cứ chứng minh tính cần thiết của dự án, cần phải có tổ chức tư vấn có tư cách pháp nhân độc lập cả quốc tế và Việt Nam chính thức thẩm định một cách khách quan tính chính xác và khoa học của các luận cứ theo đúng quy định về quản lý đầu tư, xây dựng cơ bản của Nhà nước và đặc thù của việc xây dựng một CHKQT, nhất là một CHKQT trung chuyển (CHKQT TC) mang đặc trưng của thế kỷ 21.
Để đánh giá và kết luận sau khi xem xét ý kiến của hai phía ( Bên lập dự án và bên tư vấn phản biện) và các chuyên gia độc lập khác thông qua các hội thảo, các diễn đàn, Nhà nước cần có một tổ tư vấn độc lập để tư vấn cho Nhà nước đánh giá thẩm định tính khách quan, đúng đắn của dự án. Tổ tư vấn này sẽ đưa ra kết luận cuối cùng trình Quốc hội phê duyệt dự án khả thi.
2. Một vài lưu ý:
2.1.  CHKQT TC của thế kỷ 21 có đặc trưng gì?   Là trung tâm vận chuyển HK, trung tâm kinh tế, tài chính, trung tâm ngoại giao, buôn bán thương mại, trung tâm vui chơi giải trí, trung tâm văn hóa thể thao (nhà hát, nhà chiếu phim, sân bóng chuyền, bó rổ trong nhà…); Là Trung tâm vận chuyển HK nó có thể thực hiện các dịch vụ vận chuyển quốc tế các loại hàng hóa HK tiếp nhận; phân phối kịp thời, chính xác, an toàn hàng hóa, hành lý của hành khách tại các nút giao nhau của các tuyến bay quốc tế theo tiêu chuẩn công nghệ- kỹ thuật đẳng cấp của hàng không quốc tế của một CHKQT TC..
2.2.  Về cạnh tranh:
Các hãng hàng không Việt Nam bao gồm hãng hàng không quốc gia Vietnam Airlines và các hãng hàng không khác đang khai thác 113 tàu bay (chưa tính 3 tàu bay Cessna sở hữu của Công ty CPHK Hải Âu): B777, A330-200, A321, A320 và ATR72. Tuổi trung bình của đội tàu bay là 6,2 tuổi. Trong số này có 43 tàu bay sở hữu (chiếm 43%), còn lại là thuê không có tổ bay (thuê khô). Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, Vietnam Airlines sẽ nhận các tàu bay B787, A350 và VietJet sẽ nhận các tàu bay A320 thế hệ mới theo các hợp đồng mua đã ký kết với Airbus. Từ tháng 6 năm 2010, Vietnam Airlines đã chính thức trở thành thành viên thứ 10 của Liên minh Hàng không toàn cầu SkyTeam, một liên minh hàng không gồm 19 hãng hàng không lớn của thế giới. Các hãng hàng  không nội địa khác cũng đang trên đà phát triển; Dịch vụ Quản lý bay của ta đã được đầu tư lớn trong nhiều năm qua lên ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới với các trung tâm điều hành bay hiện đại. Trong lúc đó ta chưa có một CHKQT trung chuyển ngang tầm với hàng không các nước trong  khu vực và trên thế giới. Đó là một sự phát triển thiếu đồng bộ của ngành HKVN. Khu vực ĐNA là nơi phát triển mạnh mẽ vận tải HK trong thế kỷ 21. Vị trí địa chính trị Việt nam thuận lợi cho phát triển VTHK  nhưng chỉ có thể cạnh tranh cùng hàng không các nước khi tất cả các ngành KTQD cùng nâng cao năng lực cạnh tranh. Yêu cầu bức thiết của một Việt nam với 93 triệu dân phải có ít nhất một CHKQT trung chuyển để đáp ứng nhu cầu cạnh trạnh của nền kinh tế quốc dân nói chung và của HKVN nói riêng. Cần nhấn mạnh rằng CẠNH TRANH ở đây cần được tích hợp các yếu tố tổng hợp sức mạnh của toàn ngành HKVN trong đó có vai trò của CHKQT Long thành và của cả các ngành kinh tế liên quan như du lịch, xuất nhập khẩu…đồng thời cần phải có thời gian. Trước mắt CHKQT Long thành phải được xây dựng để làm tròn nhiệm vụ là sân bay dự bị cho CHKQT Tân sơn nhất, tạo sự đồng bộ trong nội bộ ngành HKVN và góp phần tăng năng lực cạnh tranh của toàn ngành HKVN. Theo thời gian nó sẽ được phát triển thành CHKQT trung chuyển của vùng kinh tế miền Đông Nam bộ, của cả nước, tiến tới là của khu vực và quốc tế.
2.3. Về tính hiệu quả kinh tế- xã hội: Cần lưu ý rằng hiệu quả hoạt động của CHKQT Long thành nói riêng và của toàn ngành HKVN nói chung nằm trong hiệu quả liên ngành. Đây là một vấn đề lớn, phức tạp rất khó lượng hóa và phụ thuộc vào hàng loạt vấn đề từ vĩ mô đến vi mô. Chúng tôi cho rằng dự án đã công phu nghiên cứu và đưa ra những nhận định có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, để có kết luận chính xác hơn nữa, gần đúng hơn nữa chúng ta cần phải thận trọng nghiên cứu hàng loạt vấn đề liên quan. Theo chúng tôi để trả lời nhiều câu hỏi liên quan đến đầu tư xây dựng CHKQT Long thành, cần thiết phải tiến hành càng sớm càng tốt nghiên cứu các chuyên đề như danh sách kèm theo tại phụ lục số 2.(Gồm 8 nhóm với 32 đề tài nghiên cứu).  Cần lưu ý rằng việc đầu tư nghiên cứu các chuyên đề đó là rất cần thiết và về kinh phí thì chẳng đáng là bao so với sự chậm trễ tiến độ, sự làm sai phải sửa chữa, thay đổi và bao điều lãng phí khác…Nhà nước, các đơn vị liên quan cần quan tâm sớm triển khai nghiên cứu làm tiền đề và chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển CHKQT TC Long thành.
2.4. Về Hội KH&CN HKVN:
Hội KH&CN HKVN có 36 hội viên tập thể là các cơ quan, đơn vị chủ chốt trong ngành HKVN, không quân, công binh, các trường đại học, các viện nghiên cứu…Đó là những tập thể đã góp phần làm thay đổi diện mạo, tầm cỡ của ngành HKVN trong thời gian qua;  Gần 400 hội viên cá thể là các giáo sư, PGS, TS,Thạc sỹ, kỹ sư, cử nhân, cán bộ kỹ thuật, giảng viên, cán bộ quản lý đầu ngành trong cả nước về hàng không và các lĩnh vực liên quan…Hội đã từng là cơ quan tư vấn phản biện cho 2 dự án qui hoạch mạng CHK, SB Việt nam và các dự án đầu tư xây dựng các CHK, SB, các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong cả nước.
Hội Khoa học và công nghệ hàng không Việt nam là tổ chức xã hội nghề nghiệp tập hợp những tập thể và cá nhân có trình độ, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm và uy tín về tư vấn phản biện các qui hoạch, thiết kế, xây dựng, khai thác… CHK, SB trong cả nước của ngành HKVN trong hơn 25 năm qua; Hội có đủ khả năng về mọi mặt tham gia các hoạt động tư vấn phản biện nếu được giao nhiệm vụ.
2.5. Về các vấn đề khác:
a).        Tại sao phải lựa chọn địa điểm Long Thành?
- Sự phù hợp của Dự án với các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội.
- Bảo đảm quốc phòng – an ninh;
- Những tiêu chí, điều kiện tiền đề để trở thành một cảng trung chuyển hàng không quốc tế trong điều kiện hiện nay.
(Chứng minh: Cung cấp một cách tương đối chuẩn xác tình hình, số liệu, các tiêu chí… có sức thuyết phục về các phương án, đề xuất.)
b).       Làm tốt công tác triển khai dự án theo đúng qui hoạch:
- Vấn đề sử dụng đất, phương án giải phóng mặt bằng và tái định cư;
- Lựa chọn công nghệ, kỹ thuật và mô hình quản lý, vận hành, khai thác;
- Hiệu quả kinh tế – xã hội và hiệu quả đầu tư của Dự án;
- Tổng mức đầu tư và cơ cấu nguồn vốn đầu tư,
- Vấn đề huy động các nguồn vốn theo hình thức xã hội hóa.
c).Làm tốt công tác phổ biến kiến thức cho cộng đồng
-Thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức liên quan đến cộng đồng;
-Công khai, minh bạch trong quá trình triển khai nhằm tạo sự thống nhất , đồng thuận cao.
IV. Kết Luận và kiến nghị
Việc đầu tư xây dựng CHKQT TC Long thành là hết sức cấp thiết, cần khẩn trương thông qua các thủ tục cần thiết theo đúng qui định của pháp luật. Cần nhớ rằng còn phải mất khá nhiều thời gian chúng ta mới có một CHKQT TC Long thành, trong lúc chúng ta đã lỡ nhịp nhiều lần, đã rất muộn so với các nước trong khu vực và thế giới. Mỗi chúng ta phải “ coi đây là dự án đặc biệt quan trọng cấp quốc gia, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước” để từ đó mỗi một thành viên, mõi một tập thể có quyết tâm cao trong hoàn thành nhiệm vụ được phân công để Việt nam sớm có một CHKQT TC Long thành xứng đáng với tầm vóc vươn lên của đất nướctrong thế kỷ 21 !
 Kính đề nghị Quốc hội sớm thông qua chủ trương đầu tư và cho phép lập dự án khả thi xây dựng CHKQT TC Long thành!
Trân trọng cám ơn!
                                                                      HỘI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
                                                                            HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
                                                                                        Chủ tịch
 
 
 
                                                                           TS. TRẦN QUANG CHÂU
 
 
 
 
 
                   Xin tham khảo các tài liệu liên quan tại các phụ lục kèm theo:
                    Phụ lục số 1: Những vấn đề cần nghiên cứu Về Báo cáo đầu tư Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành
1.         Sự cần thiết xây dựng Cảng Hàng không quốc tế Long Thành, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ của cảng trên cơ sở so sánh với các càng không quốc tế trong khu vực và khả năng trở thành Long Thành trở thành cảng trung huyển quốc tế:
Chưa nói đến vai trò Trung chuyển thế giới, nhu cầu riêng đơn thuần vận chuyển hành khách tương tự Tân Sơn Nhất hiện nay cũng đã cần đến Long Thành kể từ giai đoạn 2020-2030
2.         Sự phù hợp với quy hoạch của Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành; tác động của Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành đối với các ngành kinh tế-kỹ thuật và đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước; đặc biệt là du lịch, công nghiệp hàng không và phát triển đô thị.
Hoàn toàn phù hợp với các quy hoạch kinh tế xã hội khác. Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành chắc chẵn có tác động tốt của đối với các ngành kinh tế-kỹ thuật và đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước; đặc biệt là du lịch, công nghiệp hàng không và phát triển đô thị.
3.         Đánh giá về quy mô Dự án và phân kỳ đầu tư; về nhu cầu sử dụng đất, phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Quy mô Dự án giai đoạn đầu là phù hợp. Cần tính toán kiểm tra về nhu cầu sử dụng đất, phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng theo giai đoạn sao cho hợ lý tối ưu..
4.         Về phương án lựa chọn công nghệ, kỹ thuật cho dự án, khả năng tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam.
Phương án lựa chọn công nghệ phù hợp, kỹ thuật cho dự án khả thi, các doanh nghiệp Việt nam hoàn toàn có đủ khả năng tham gia, làm chủ ở mọi giai đoạn của Dự án.
5.         Về giải pháp bảo vệ môi trường.
Hoàn toàn có khả năng xây dựng các giải pháp bảo vệ môi trường khả thi. Tuy nhiên cần có các giải pháp cụ thể hơn.
6.         Về suất đầu tư các hạng mục và tổng mức đầu tư Dự án; về phương án huy động vốn, khả năng cân đối ngân sách và mức độ tác động đến nợ công khi thực hiện dự án, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án, khả năng trả nợ của dự án.
Suất đầu tư các hạng mục và tổng mức đầu tư Dự án có thể cần tính tỉ mỉ cụ thể hơn
Các phương án huy động vốn có tính khả thi, có khả năng cân đối ngân sách và mức độ tác động đến nợ công khi thực hiện dự án không lớn, Dự án có hiệu quả kinh tế - xã hội, khả năng trả nợ của dự án là hiện thực.
7.         Kinh nghiệm của các nước trên thế giới (Nhật Bản, Hàn Quốc…) về xây dựng, quản lý Cảng hàng không trung chuyển quốc tế, quản lý, vận hành khai thác Cảng hàng không quốc tế Long Thành (nguồn nhân lực, công nghệ, trang thiết bi quản lý…).
Học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới (Nhật Bản, Hàn Quốc…) về xây dựng, quản lý Cảng hàng không trung chuyển quốc tế, quản lý, vận hành khai thác Cảng hàng không quốc tế Long Thành (nguồn nhân lực, công nghệ, trang thiết bi quản lý…) giúp cho dự án có tính hiệu quả cao
8.         Vấn đề đảm bảo quốc phòng – an ninh quốc gia, phối hợp trong quản lý điều hành bay.
Hoàn toàn có thể thực hiện được
9.         Về các nội dung trong cơ chế đặc thù của Dự án.
Các nội dung trong cơ chế đặc thù của Dự án: Cho phép nghiên cứu dự án sử dụng đất đai và các công trình hiện hữu trong phạm vi CHK và phạm vi ảnh hưởng của CHK  hiệu quả
10.       Các vấn đề khác có liên quan đến việc đầu tư xây dựng dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành.
Mặc dù ngân sách hoàn toàn có đủ cho việc lập dự án, nhưng nên huy động các doanh nghiệp trong nước tự bỏ kinh phí cho việc chuẩn bị đầu tư này để làm chủ quá trình thuê nước ngoài
Cho phép lập kế  hoạch xây dựng dự án và kế hoạch chuẩn bị đầu tư xây dựng ngay
Cho phép lập dự án xây dựng tổng thể hoàn chỉnh mọi giai đoạn sau đó mới lập dự án xây dựng từng hạng mục theo thiết kế tổng thể toàn diện theo công nghệ xây dựng dự án hiện đại tiên tiến nhất.
Cho phép lập và phê duyệt tiến độ tổng thể cho Dự án.
Cho phép huy động mọi lực lượng trong nước tham gia vào mọi khâu của Dự án theo tinh thần xã hội hóa..
2. Ý kiến đánh giá về dự án xây dựng CHKQT Long thành
 
 
 
HỘI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ       CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
     HÀNG KHÔNG VIỆT NAM                               Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
    ----------------------                                                   ---------------------------
   Số: 351/ VAAST-VP                                            Hà Nội, ngày  01   tháng   7  năm 2013
Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ VỀ DỰ ÁN  XÂY DỰNG CẢNG HÀNG KHÔNG  QUỐC TẾ LONG THÀNH
A. Thay lời nói đầu
        Hội khoa học và công nghệ hàng không Việt Nam có tên giao dịch tiếng Anh viết tắt là VAAST ( Hội) tiền thân là Hội Khoa học kỹ thuật xây dựng công trình Hàng không Việt Nam, được thành lập ngày 14 tháng 3 năm 1990, là tổ chức tư vấn phản biện xã hội về các vấn đề khoa học và công nghệ ngành Hàng không; là đơn vị thành viên của Liên hiệp các hội KH&KT VN ( VUSTA ); là hội viên tập thể của Tổng hội xây dựng Việt Nam ( VFCEA) ; đồng thời  là thành viên chính thức của Hiệp hội sân bay quốc tế khu vực Thái Bình Dương ( ACI )  từ năm 1996.
      Hội đã tham gia đề án qui hoạch mạng Cảng hàng không, sân bay dân dụng (CHK,SB) Việt nam với tư cách là cơ quan tư vấn và đã tham gia nghiên cứu triển khai nhiều  nhiệm vụ khoa học các cấp về công trình Hàng không trong hơn 20 năm qua. Hội gồm có 33 hội viên tập thể là những cơ quan, đơn vị chủ chốt trong ngành Hàng không Việt nam, không quân, công binh, các trường, các Viện thuộc ngành Giao thông vận tải Việt nam. Số hội viên cá nhân hơn 350 người là cán bộ đầu ngành trên lĩnh vực khoa học và công nghệ Hàng không trong cả nước. Họ là những giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, kỹ sư, cử nhân, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, giáo viên, nghiên cứu viên trên lĩnh vực giao thông Hàng không có kinh nghiệm đã nghỉ hưu hoặc đang công tác trong các cơ quan, đơn vị của Nhà nước, các tổ chức xã hội hoặc tư nhân.
       Thực hiện theo yêu cầu của Bộ giao thông vận tải ( Bộ GTVT) tại công văn số 5859/BGTVT-VP ngày 20 tháng 06 năm 2013 V/v công tác chuẩn bị tổ chức hội thảo đóng góp ý kiến báo cáo đầu tư dự án xây dựng Cảng Hàng không quốc tế Long Thành (CHKQTLT), do thời gian và nguồn thông tin được cung cấp chính thức rất hạn chế, sau khi nghiên cứu tài liệu, thảo luận trong một số Hội viên của Hội, nay Hội xin có ý kiến đánh giá về Báo cáo dự án xây dựng CHKQT Long Thành như sau:
B. Nội dung ý kiến đánh giá
I. Sự cần thiết của Dự án.
       Đề án qui hoạch mạng Cảng hàng không, sân bay dân dụng Việt nam (CHK,SB DDVN) được Viện khoa học hàng không Việt nam đề xuất và xây dựng thuyết minh đề cương từ năm 1993[1]  . Vì đây là vấn đề mới nên sau nhiều hội thảo, hội nghị góp ý bổ sung hoàn thiện thuyết minh đề án, cuối cùng đã  được Bộ GTVT cho phép triển khai từ ngày 17 tháng 6 năm 1994. Đây là đề án qui hoạch mạng CHK, SB DDVN đầu tiên được triển khai tại Việt Nam. Hội khoa học kỹ thuật xây dựng công trình HKVN ( nay là Hội KH&CN HKVN) là cơ quan tư vấn. Tham gia trực tiếp triển khai đề án này gồm 37 tổ chức và 67 cán bộ khoa học, quản lý chủ chốt của ngành HKVN, không quân, công binh, các Viện, các trường của Nhà nước và các ngành có liên quan. Về phía nước ngoài, có sự giúp đỡ của các Viện sỹ Viện hàn lâm khoa học Liên xô cũ và Viện thiết kế hàng không Ucraina. Đề án đã xây dựng được phương pháp qui hoạch mạng CHK, SB DD Việt nam với hệ thống tiêu chuẩn cụ thể làm căn cứ cho qui hoạch [1] ).
       Sau khi hoàn thành đề án, hội đồng thẩm định quốc gia do GS.TS. Đỗ Quốc Sam làm chủ tịch đã cùng các cơ quan của Nhà nước liên quan tiến hành thẩm định, thông qua và trình Chính phủ. Kết quả của đề án đã được thể hiện trong các hồ sơ của đề án qui hoạch mạng CHK, SB DDVN và tại tờ trình Chính phủ của Cục HKDDVN số: 668/CAAV  ngày 8  tháng 4  năm 1996 [2] và quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống sân bay toàn quốc của Chính phủ số 911/1997/QĐ-TTg ngày 24/10/1997, [3]  trong đó gồm:
- Danh mục các CHK-SB toàn quốc cùng với quy mô, nhu cầu đầu tư xây dựng, nguồn vốn và phân kỳ đầu tư theo thời gian. 
- Những nhiệm vụ tiếp theo cần phải thực hiện sau khi qui hoạch.
- Trong mạng CHK, SBDDVN được phê duyệt, cảng hàng không quốc tế Long Thành (CHKQT LT) được xác định là cảng hàng không quốc tế và quốc nội lớn nhất của miền Nam và là CHK trung chuyển (HUB) của khu vực Đông Nam Á và thế giới.
      Theo phân kỳ đầu tư xây dựng của qui hoạch thì từ năm 2005 CHKQT Long Thành sẽ đón 1,5 triệu hành khách / năm.
      Để đáp ứng tình hình mới, tại  Quyết định số 626/QĐ/BGTVT ngày 16 tháng 3 năm 2004 của Bộ Trưởng Bộ GTVT đã cho phép điều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống mạng CHK, SB DDVN. Kết quả được thể hiện trong “ Qui hoạch điều chỉnh hệ thống Cảng Hàng không toàn quốc đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030” do Công ty AEC thực hiện [4]  và được phê duyệt trong  Quyết định số 21/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Quy hoạch phát triển giao thông vận tải hàng không giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030[5] 
  Kết quả qui hoạch lần thứ 2 này đã khẳng định riêng đối với CHK Long Thành đến 2030: “ Tiếp tục đầu tư, mở rộng các giai đoạn tiếp theo đối với CHKQT LT để cảng đảm bảo vai trò thay thế CHKQT Tân Sơn Nhất, trở thành CHKQT quan trọng nhất của khu vực phía Nam, là CHKQT lớn nhất toàn quốc và là trung tâm trung chuyển hành khách của khu vực theo tiêu chuẩn quốc tế. CHKQT LT đạt cấp 4F theo tiêu chuẩn ICAO với tổng công suất từ 80 đến 100 triệu HK / năm ”.
   Do hoàn cảnh khó khăn vừa qua của đất nước về nhiều mặt nên đến nay mới chuẩn bị xong văn bản Báo cáo dự án đầu tư xây dựng CHKQT LT. Sự chậm trễ này là thiệt thòi cho ngành HKVN nói riêng và của nước ta nói chung trong xây dựng phát triển kinh tế. Việc này cần sớm được khắc phục và đẩy mạnh tốc độ xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và tăng năng lực cạnh tranh quốc tế của ngành HKVN và của đất nước ta trong tiến trình hội nhập.
       Chúng tôi thấy rằng nhu cầu đầu tư xây dựng CHKQT LT là đòi hỏi bức xúc từ GTVT ở khu vực miền Nam, của toàn quốc, của khu vực và thế giới; Đồng thời là yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành HKVN và của đất nước trong thời kỳ hội nhập và tương lai phát triển lâu dài.
II. Tính pháp lý của hồ sơ dự án.
            Căn cứ các tài liệu được cung cấp  [1,2]   chúng tôi thấy rằng Báo cáo dự án đầu tư  dựa trên các quyết định có tính pháp lý cao như đã nêu phía trên và hai Quyết định là:
        - Quyết định số 703/QĐ-TTg ngày 20/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch vị trí, quy mô và phân khu chức năng cảng hàng không quốc tế Long Thành;
      - Quyết định số 909/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 14/06/2011 về phê duyệt Quy hoạch tổng thể Cảng hàng không quốc tế Long Thành;
Chúng tôi hiểu rằng hồ sơ được cung cấp [1,2]   là  cơ sở để xin chủ trương đầu tư xây dựng CHKQT Long Thành,  do đó mọi ý kiến đánh giá đều theo tinh thần này. Chúng tôi cho rằng, để đầy đủ và toàn diện hơn nữa về yếu tố pháp lý nên:
      - Bổ sung các căn cứ kỹ thuật của Việt nam như: Quy trình thiết kế mặt đường sân bay dân dụng Việt Nam TCCS 2: 2009/CHK [8]  ; Tiêu chuẩn sân bay dân dụng Việt Nam TCVN 8753: 2011[9]  ; Tiêu chuẩn sân bay trực thăng dân dụng Việt Nam TCCS 3: 2009/CHK [10]  và các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn khác đã ban hành của Việt nam, ví dụ các văn bản[12-17]  v.v...Dự án phải được xem xét dưới ảnh hưởng của các văn bản này.
        - Bổ sung cơ quan tư vấn có tư cách pháp nhân của quốc tế hoặc Việt Nam thẩm định dự án này một cách độc lập theo đúng quy định quản lý đầu tư xây dựng cơ bản của Việt nam [12-15]. Theo chúng tôi thì cần thiết phải có cơ quan tư vấn của Việt nam tham gia để giải quyết các vấn đề thực tiễn phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của Việt nam.
        - Theo các văn bản Tiêu chuẩn dự thầu trong các dự án quy hoạch về CHK của Việt nam thì cần có đủ thông tin về tổ chức và cá nhân lập dự án theo yêu cầu chứng chỉ hành nghề phù hợp. Nội dung này chúng tôi không đánh giá được vì thiếu thông tin .
III. Nhận xét những nội dung báo cáo đầu tư đã giải quyết:
1. Nhu cầu lập dự án là hoàn toàn cần thiết.
2. Báo cáo sử dụng nhiều tài liệu nghiên cứu, khảo sát, quy hoạch, tính toán trong thời gian dài trước đó bởi nhiều tổ chức, cá nhân có uy tín ở Việt Nam và quốc tế để làm căn cứ có độ tin cậy cao để tham khảo như đã nói ở trên và còn có thêm:
- Nghiên cứu lựa chọn vị trí CHKQTLT (Tháng 11/2003)
- Quy hoạch tổng thể CHKQTLT (Tháng 12/2009)
- Nghiên cứu Chuẩn bị hợp tác xây dựng CHKQTLT (Tháng 02/2012)
3. Báo cáo đưa ra chiến lược phát triển CHKQT LT với các kịch bản có sự cân nhắc tính toán cẩn thận.
4. Báo cáo phân tích Qui mô đầu tư và phân kỳ đầu tư có phân chia theo các giai đoạn tương đối hợp lý.
5. Báo cáo có phân tích nhu cầu sử dụng đất từng giai đoạn có tính tiết kiệm, khả thi.
6. Có kế hoạch đền bù, giải tỏa mặt bằng, di, giãn dân, giải pháp kỹ thuật và kế hoạch thi công cụ thể và chi tiết ( Có tính đến các loại rủi ro).
7. Các vấn đề liên quan đến tác động môi trường: đã xem xét các tác động môi trường và đề xuất được một số giải pháp thích ứng.
8. Tổng mức đầu tư:
-  Về giá cả các hạng mục và tổng toán: Chưa đủ điều kiện để nhận xét nên chúng tôi xin chưa có ý kiến. Tuy nhiên cần phải tính đến các quy định về lập dự toán, khái toán theo điều kiện của Việt nam chứ không chỉ dựa hoàn toàn theo quốc tế và có tính đến nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc phòng.
-  Có sự phân chia khá hợp lý vai trò giữa thành phần kinh tế Nhà nước và tư nhân trong đầu tư xây dựng CHKQT Long Thành.
-  Báo cáo đã đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, phân tích, tính toán cụ thể chi tiết các phương  án thận trọng, khá công phu.
9.  Tiến độ thực hiện dự án được xây dựng khá chặt chẽ, cụ thể, có xem xét cẩn thận  thời điểm triển khai thi công và hoạt động đồng bộ với việc sử dụng hợp lý CHK Tân Sơn Nhất trong giai đoạn quá độ và lâu dài sau này.
10.  Hình thức quản lý dự án: Dự án kiến nghị một mô hình quản lý dự án mới mẻ đối với Việt nam có thể áp dụng được. ( Tổ chức theo mô hình công ty thống nhất quản lý khai thác và công tác quản lý hành chính của CHK là hướng mới, tích cực phù hợp với tinh thần đổi mới). Tuy nhiên cần xem xét sao cho hài hòa, nhuần nhuyễn và hợp lý với kịch bản ban quản lý dự án mà lâu nay Việt nam vẫn quen áp dụng.
IV. Những góp ý cho Báo cáo:
1.         Các phương án quy hoạch
          Chưa thấy xem xét các sơ đồ bố trí đường CHC ở CHK nhiều đường CHC sơ đồ dạng đảo, tiếp tuyến để chọn sơ đồ hợp lý tiết kiệm đất, nâng cao năng lực thông hành và an toàn. Các phương án đặt cảng hàng không nên được đánh giá so sánh theo các tiêu chí sau:
1.1.      Mục tiêu chiến lược đối với CHK.
1.2.      Máy bay khai thác tại cảng hàng không.
1.3.      Nhu cầu  vận chuyển hành khách hàng hoá của khu vực hấp dẫn CHK.
1.4.      Nhu cầu cấp CHK sân bay.
1.5.      Nhu cầu đất đai và khả năng đất đai cho phép bố trí CHK, SB.
1.6.      Vị trí hợp lý trong khu vực hấp dẫn CHK.
1.7.      Vị trí đến các thành phố lớn, các khu công nghiệp và các khu dân cư.
1.8.      Vị trí tương đối với các mạng giao thông khu vực.
1.9.      Vị trí tương đối so với các CHK khác.
1.10.   Điều kiện thời tiết, biểu đồ họa gió khu vực CHK.
1.11.   Tĩnh không Cảng hàng không, sân bay.
1.12.   Các công trình dân dụng, công nghiệp có ảnh hưởng đến cất, hạ cánh của máy bay như: đường điện cao thế,  các công trình hoá chất, công trình gây ra các luồng gió bất lợi v.v…
1.13.   Điều kiện địa chất thuỷ văn khu vực CHK.
1.14.   Khả năng cấp nước sạch và xử lý nước thải, đảm bảo không ô nhiễm môi trường.
1.15.   Ảnh hưởng của các công trình quốc phòng, các sân bay quân sự.
2.         Nhiệm vụ an ninh quốc phòng:
        Báo cáo chưa có đánh giá vai trò, vị trí của CHKQT Long Thành trong nhiệm vụ an ninh quốc phòng. Vấn dề này cần được khắc phục sớm từ việc xin chủ trương Nhà nước để có định hướng nhất quán về việc triển khai đầu tư xây dựng và khai thác lâu dài CHKQT Long Thành trên lĩnh vực an ninh quốc phòng. Việc kết hợp xây dựng kinh tế đi đôi với bảo vệ tổ quốc là 2 nhiệm vụ chiến lược hết sức quan trọng không thể tách rời ! Khi xem xét đầy đủ 2 nhiệm vụ này, có thể phải điều chỉnh một số nhiệm vụ, hạng mục đầu tư vì vậy có thể sẽ dẫn đến thay đổi một hoặc nhiều hạng mục trong toàn bộ dự án. Để tránh phải bổ sung ( sau khi xây dựng xong) sẽ gây ra tình trạng chắp vá và lãng phí.
3.         Công tác an toàn Hàng không:
       Mặc dù Báo cáo đã quan tâm phân tích về an toàn Hàng không và đề ra một số giải pháp cụ thể, tuy nhiên cần phân tích sâu hơn về công tác an toàn bay theo các khuyến cáo thực hành của ICAO để đảm báo tính thuyết phục cao hơn trong quyết tâm đầu tư và tìm các giải pháp, các khuyến cáo có tính chuyên môn cao đi trước một bước là rất quan trọng. Ví dụ: Vị trí CHKQT Tân Sơn Nhất có vị trí ở cách trung tâm thành phố 7 km là một thực tế rất hiếm trên thế giới và là một nhân tố đe dọa rất lớn đến an toàn tính mạng và tài sản của người dân thành phố. (Tai nạn hàng không thường xảy ra nhiều nhất là ở giai đoạn hạ, cất cánh). Điều gì sẽ xảy ra khi có máy bay cỡ lớn chuyên chở hàng trăm hành khách, hàng chục tấn xăng dầu, hàng hóa và thiết bị… hạ cánh không an toàn xảy ra tại CHK Tân Sơn Nhất, khi CHK bị bao vây trong khu vực dân cư đông đúc như ta được biết ?
4.  Sự tác động của biến đổi của khí hậu đến các công trình:
          Báo cáo có nhắc đến sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, có đánh giá tác động môi trường và đưa ra các giải pháp khắc phục. Tuy nhiên, chưa thấy nêu lên sự ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu đối với các công trình xây dựng của CHKQT Long Thành và giải pháp cụ thể, lâu dài để khắc phục. Trong lúc đó, theo nghiên cứu về sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các công trình giao thông Hàng không Việt nam ở khu vực ven biển và vùng duyên hải, các khuyến cáo đã đưa ra là phải tính tăng tổng dự toán đầu tư xây dựng công trình lên 10 ÷20 % tùy theo vị trí CHKSB với mục đích nâng cao chất lượng công trình [11] .
Như vậy trong Báo cáo này chưa thấy nhắc đến điều này. Phải chăng là các tác giả đã đưa vào ở một hay những mục nào đó trong Báo cáo? Nếu mực nước biển dâng cao trên một mét hoặc cao hơn theo kịch bản biến đổi khí hậu của Việt nam và thế giới đã công bố thì liệu các công trình xây dựng của CHKQTLT sẽ bị ảnh hưởng ra sao ? Thiết tưởng đây là vấn đề cần được phân tích kỹ càng hơn, chí ít cũng tạo được sự yên tâm cho chủ đầu tư và người khai thác khi họ được biết và lường trước những diễn biến xẩy ra do tác động của biến đổi khí hậu.
5.         Về lực lượng thực hiện dự án ( Nguồn nhân lực và công tác đào tạo, huấn luyện)
     Đây là dự án xây dựng cảng hàng không lớn nhất Việt Nam từ trước đến nay. Muốn cho việc quản lý, giám sát, xử lý kịp thời tại hiện trường để việc thực hiện dự án khả thi cao cần phải có đội ngũ nguồn nhân lực có trình độ hiểu biết về kinh tế - kỹ thuật, điều hành và quản lý đủ mạnh để tránh lãng phí, thất thoát làm giảm chất lượng của công trình. Báo cáo này chưa thật chú trọng công tác đào tạo, huấn luyện nguồn nhân lực và cũng chưa thấy đưa ra các giải pháp hữu hiệu cho nội dung này.
       Ngoài ra: Theo chúng tôi thì cần thiết phải được các cơ quan tư vấn của Việt Nam đủ tư cách pháp nhân tham gia toàn diện vào quá trình lập và thẩm định dự án này để đảm bảo tính thực tế và khả thi theo điều kiện Việt nam.
6.         Về các công trình phi hàng không:
      Các cảng hàng không quốc tế điển hình của thế kỷ 21 là những trung tâm tổ hợp kinh tế -  kỹ thuật -  thương mại – du lịch – ngoại giao – quân sự  - văn hóa – thể thao - giải trí -  hội chợ -  triển lãm -  ẩm thực … (Như các Cảng Hàng không quốc tế của các nước tiên tiến hiện có).
             Báo cáo này chưa nêu nổi bật được một phần mô hình lý tưởng Cảng hàng không quốc tế hiện đại của thế kỷ 21. Từ đó, việc phối hợp, điều hành, hợp tác giữa các hoạt động dịch vụ phi hàng không và các dịch vụ hàng không đồng bộ chưa thấy nêu lên ở một mức đủ cần thiết để nâng cao tính thuyết phục của Báo cáo. Đó cũng là bức tranh ( hay kịch bản) tương lai gần của một tổ hợp dịch vụ tổng hợp đa dạng, phong phú. Tổ hợp này sẽ mang lại nguồn lợi to lớn cho các thành viên tham gia đầu tư và cho đất nước trong hoạt động xuất khẩu các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp đặc thù, nhất là các sản phẩm tươi sống có thương hiệu của vùng Đông Nam bộ, của miền Nam và đất nước. Những viễn cảnh ( kịch bản) đó còn là tiếng gọi, lời quảng bá cho một chiến lược thu hút đầu tư vào xây dựng các công trình cho các dịch vụ phi hàng không khác, không chỉ riêng cho CHKQT LT mà còn cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực liên quan và  khiến cho nguồn thu của cảng hàng không sẽ tăng cao hơn.
7.         Về so sánh hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án:
        Báo cáo đã có so sánh các phương án để chọn CHKQT Long Thành. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa tinh thần quyết tâm của chủ đầu tư, thiết tưởng một so sánh mang tính chất triệt để hơn, có tính lạc quan hơn là rất cần thiết. Đó là việc tiến hành so sánh diện tích đất của CHKQT Long thành và CHKQT Tân sơn nhất. Khi lấy giá thành của diện tích đất xây dựng CHKQT Long Thành là 5.000 ha với chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, di, giãn dân để so sánh với giá thành diện tích đất đang có và diện tích đất sẽ cần có thêm là 641 ha để mở rộng thêm và chi phí giải phóng mặt bằng của cảng hàng không Tân Sơn Nhất (với giá bình quân ở thời điểm lập Báo cáo ) thì sẽ làm nổi bật sự cần thiết phải đầu tư xây dựng CHKQT Long thành để thay thế cho Tân sơn nhất trong tương lai ! Khi mà thành phố Hồ Chí Minh có thêm diện tích trên 1.000 ha đất “ vàng” và cơ sở hạ tầng của Tân Sơn Nhất làm nơi đầu tư xây dựng các công trình  mới cho thế kỷ 21 với hai đại lộ Đông Tây là hai đường hạ cất cánh hiện có với chiều dài 3,05 km và 3,8 km và chiều rộng tương ứng là 47 mét và 45 mét. Điều này sẽ làm thay đổi diện mạo của thành phố lên một tầm cao mới văn minh và hiện đại hơn ! 
C. Kết luận và khuyến nghị:
I. Ý kiến đánh giá tổng quát:
       Việc đầu tư xây dựng CHKQT Long Thành là hơi muộn, đến nay cần cấp thiết ưu tiên lập dự án đầu tư xây dựng nhanh chóng vì sự phát triển của ngành hàng không nói riêng và của đất nước nói chung.
       Báo cáo Dự án xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành được xây dựng công phu, khoa học, chi tiết và cụ thể. Tuy nhiên Báo cáo dự án cần được cơ quan tư vấn có tư cách pháp nhân độc lập chính thức thẩm định tính chính xác và khoa học của các luận cứ theo đúng quy định về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước thì mới đủ độ tin cậy để đưa ra các quyết định cần thiết.
II. Các khuyến nghị : Hội khoa học và công nghệ hàng không Việt nam có một số khuyến nghị sau:
1.         Đối với tổ chức tư vấn:
a    Đề nghị tham khảo ý kiến về những hạn chế của Báo cáo đã nêu để xem xét, tiếp thu, hoàn thiện văn bản Báo cáo nhằm làm Báo cáo có sức thuyết phục cao hơn nữa.
b.  Cần chính thức mời của cơ quan tư vấn có tư cách pháp nhân của Việt nam tham gia vào dự án này ngay từ đầu đến cuối.
2.  Đối với chủ đầu tư:
a.  Thực hiện đầy đủ các bước thẩm định theo quy định về quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản.
Theo chúng tôi thì cần thiết phải có được ít nhất một cơ quan tư vấn của Việt Nam đủ tư cách pháp nhân thẩm định toàn diện đồng bộ dự án này, tránh sự phê phán hoặc ủng hộ chỉ theo cảm tính.
b.  Đề nghị chủ đầu tư báo cáo với các cấp có thẩm quyền của Nhà nước để xin chủ trương, định hướng, kế hoạch đầu tư  xây dựng và khai thác CHKQT Long Thành trong nhiệm vụ an ninh quốc phòng một cách nhất quán từ đầu để kịp thời trình Chính phủ quyết định làm căn cứ điều chỉnh, hoàn thiện dự án.
c.  Xây dựng mô hình tổ chức với nguồn nhân lực đủ mạnh về năng lực chuyên môn và có bản lĩnh điều hành, quản lý thực hiện dự án; chuẩn bị thật tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực đủ tầm cho công tác quản lý, khai thác CHKQT Long Thành theo tiến độ xây dựng; Xây dựng phương án di chuyển tuần tự các hoạt động của CHKQT Tân Sơn Nhất về CHKQT Long Thành theo một kế hoạch nhất quán, trật tự, đảm bảo an toàn bay và mọi hoạt động liên quan nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
c. Chủ trì phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương, các tổ chức và cá nhân trong nước và quốc tế liên quan để tăng cường giám sát chặt chẽ việc triển khai thực hiện dự án đảm bảo chất lượng, tránh lãng phí và theo đúng tiến độ được phê duyệt.
3.  Đối với nhà nước:
a. Sau khi được thẩm định bởi tổ chức tư vấn có tư cách pháp nhân dự án cần được xem xét xin thêm ý kiến rộng rãi, công khai của các nhà khoa học, các chuyên gia, tổ chức liên quan và dân chúng thì dự án sẽ có tính khả thi cao hơn.
b. Sớm xem xét phê duyệt dự án xây dựng CHKQT Long Thành và chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai thực hiện thành công.
c.  Có cơ chế chính sách đặc thù để chỉ đạo, quản lý, giám sát và xử lý kịp thời trong quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng CHKQT Long Thành. Vì đây là một công trình mới có qui mô lớn nhất từ trước đến nay của ngành HKVN.
d.  Ưu tiên hỗ trợ, huy động mọi nguồn lực của đất nước có thể được cho việc thực hiện thành công dự án càng sớm càng tốt. Cần chủ động sử dụng và tạo điều kiện cho các tổ chức tư vấn của Việt Nam tham gia từ đầu quá trình lập dự án, khảo sát thiết kế, thi công, thẩm định dự án để đảm bảo tính khả thi và tính kinh tế của Dự án phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
D. Thay cho lời kết
        Hội khoa học và công nghệ hàng không Việt Nam xin chân thành cảm ơn lãnh đạo của Bộ Giao thông vận tải, Cục hàng không Việt Nam, Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam và ban tổ chức Hội thảo đã tin tưởng hỏi ý kiến đánh giá của Hội về đề án đầu tư xây dựng CHKQT Long Thành. Vì thời gian và thông tin được cung cấp có phần hạn chế nên các ý kiến đánh giá của Hội có thể chưa được đầy đủ, sâu sắc và toàn diện. Hội sẵn sàng trao đổi thảo luận, tiếp thu và sẵn sàng tích cực tham gia các hoạt động tư vấn phản biện, giám sát liên quan đến CHKQT Long Thành nói riêng và chuyên ngành giao thông vận tải Hàng không Việt Nam nói chung khi được yêu cầu.
         Kính chúc sức khỏe và thành công! Xin trân trọng cám ơn!
Nơi gửi:                                                                    T/M. BCH TW HỘI KH & CN  HKVN
 - Bộ GTVT
 -  Cục HKVN                                                                                      CHỦ TỊCH
- Tổng hội Xây dựng Việt Nam
- Ban TC Hội thảo                                                      TS. TRần Quang Châu                                                                                                                                   
Tài liệu tham khảo kèm theo báo cáo này:
1.         Hồ sơ quy hoạch mạng CHK-SB dân dụng Việt Nam, Viện KHHK, 1996
2.         Tờ trình số: 668/CAAV  ngày 8  tháng 4  năm 1996 về kết quả quy hoạch mạng CHK, SB dân dụng Việt Nam
3.         Quyết định số 911/1997/QĐ-TTg ngày 24/10/1997 phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống sân bay toàn quốc của Chính phủ.
4.         Qui hoạch điều chỉnh hệ thống Cảng Hàng không toàn quốc đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030” do Công ty AEC thực hiện.
5.         Quyết định số 21/QĐ-TTG ngày 8-1-2009 của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Quy hoạch phát triển giao thông vận tải hàng không giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
6.         Tóm tắt Báo cáo đầu tư Dự án Xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành
7.         Báo cáo tóm tắt nghiên cứu tiền khả thi Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành
8.           Quy trình thiết kế mặt đường sân bay dân dụng Việt Nam TCCS 2:2009/CHK.
9.         Tiêu chuẩn sân bay dân dụng Việt Nam TCVN 8753: 2011.
10.       Tiêu chuẩn sân bay trực thăng dân dụng Việt Nam TCCS 3: 2009/CHK.
11.         Báo cáo: “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với ngành giao thông vận tải và xây dựng các biện pháp thích ứng  với các kịch bản biến đổi khia hậu trong lĩnh vực giao thông vận tải của Việt Nam trong khuôn khổ Dự án “ Việt nam: Chuẩn bị thông báo quốc gia lần thứ hai cho UNFCCC”, Hội KH KT CT hàng không, năm 2009.
12.       Luật xây dựng số 16/2003/QH 11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
13.       Luật đấu thầu số 61/2005/QH11; Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính Phủ, hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng;
14.       Luật 38/2009/QH12 ngày 19/6/2009 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản;
15.       Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng;
16.       Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 của Chính phủ về việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình;
17.       Quyết định số 957/QĐ-BXD ngày 29/9/2009 của Bộ xây dựng về việc ban hành định mức chi phí quản lý dự án và đầu tư xây dựng công trình;
 
3. Công văn gửi ban kinh tế Quốc hội
 
HỘI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  HKVN                     CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
            Số:   108        /VAAST                                                       Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
V/V: Ý KIẾN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ                                         -----------------------------------
CHKQT LONG THÀNH                                             
                                                                                     Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2014
                        
                                      Kính gửi:  Ban kinh tế Quốc hội.
Theo yêu cầu của Quí Ban về việc đóng góp ý kiến cho dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không Quốc tế (CHKQT)  Long Thành theo Công văn số 2226/GM-UBKT13 ngày 27/11/2014  nhằm làm rõ hơn một số nội dung liên quan đến dự án CHK QT Long Thành trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư, Hội khoa học và công nghệ hàng không Việt nam xin có ý kiến như sau:
1. Về tính cấp thiết của việc xây dựng CHK QT Long Thành:
CHKQT Long Thành đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt trong Quy hoạch mạng CHK Việt Nam từ năm 1997 tại Quyết định số 911/1997/QĐ-TTg ngày 24/10/1997 và tiếp tục được khẳng định tại Quyết định số 21/QĐ-TTg ngày 08/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ v/v Quy hoạch phát triển giao thông vận tải hàng không giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năn 2030.  Căn cứ theo các quyết định trên và thực tế phát triển của ngành HKVN thì việc đầu tư xây dựng CHKQT Long Thành là rất cần thiết và đã hơi muộn.
Xin giới thiệu vài nét về đề án qui hoạch mạng CHK, SB toàn quốc để làm rõ ý trên:
Năm 1992: Viện KHHK đề xuất đề án Qui hoạch mạng CHK,SB toàn quốc. Hội KH&CN Hàng không là cơ quan tư vấn phản biện.
Tháng 6-1993 Bộ GTVT phê duyệt đề án với kinh phí 2,8 tỷ VND.
Sau 5 năm triển khai, đề án QHM đã được hoàn thành, trình Chính phủ. Hội đồng qui hoạch phát triển sân bay toàn quốc do GS.TS. Đỗ Quốc Sam làm Chủ tịch đã làm việc trong 3 tháng, cuối cùng đã thông qua và trình Chính phủ. Ngày 24-10-1997 Thủ tướng Phan Văn Khải ký phê duyệt qui hoạch phát triển sân bay toàn quốc bao gồm cả sân bay quân sự và dân sự tại QĐ 911/1997 – QĐ TTg.
Lực lượng tham gia đề án: 37 tổ chức, 67 nhà khoa học của Việt nam và 2 GS.VS. GTVT Ukraina làm cố vấn.
Kết quả đề án: Bộ tài liệu qui hoạch gồm có 2400 trang A4. Đề án đã khảo sát đánh giá hiện trạng, dự báo nhu cầu phát triển, qui hoạch toàn mạng, qui hoạch định hướng một số CHK, SB quan trọng, đưa ra kế hoạch đầu tư xây dựng, phân kỳ đầu tư theo tiến độ thời gian cho toàn hệ thống CHK, SB, đưa ra các kiến nghị: lập đăng bạ sân bay, xây dựng cơ sở dữ liệu CHK, SB , đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, qui trình qui phạm …
Theo kế hoạch triển khai thực hiện qui hoạch thì năm 2005 CHKQT Long thành đạt công suất vận chuyển 1,5 triệu hành khách/năm.
Qui hoạch mạng CHK, SB toàn quốc lần thú 2: Năm 2005 bộ GTVT cho phép tiến hành đề án điều chỉ qui hoạch mạng . Kết quả đề án điều chỉnh này được thể hiện trong Quyết định số 21/QĐ-TTG.
Trong cả 2 lần Qui hoạch, CHKQT Long thành được xác định là CHKQT DỰ BỊ QUỐC TẾ CHO TÂN SƠN NHẤT. Hôm nay chúng ta đang bàn sự cần thiết đầu tư xây dựng …! Quả là quá muộn. Bởi lẽ với vai trò DỰ BỊ cho CHK TSN cũng chưa xong!
Như vậy cả về nhu cầu thực tế và cơ sở pháp lý đã có, việc đầu tư xây dựng CHKQT Long thành là cần thiết mang tầm chiến lược đã được tính toán cân nhắc thận trọng.
2. Về thủ tục pháp lý:
Theo Điều 39 Luật xây dựng thì: Thủ tướng quyết định đầu tư xây dựng công trình quan trọng quốc gia sau khi được QH thông qua chủ trương đầu tư.
Theo Nghị Quyết số 49/2010/QH12 ngày 19/6/2010 của QH, tại  Điều 5 - quy định về Hồ sơ dự án, công trình quan trọng quốc gia đã chỉ rõ: Trường hợp dự án, công trình có tổng vốn đầu tư rất lớn, thời gian thực hiện kéo dài trong nhiều năm thì sau khi QH xem xét, quyết định chủ trương đầu tư chung trên cơ sở báo cáo đầu tư (báo cáo nghiên cứu tiền khả thi) QH có thể giao Chính phủ tổ chức lập dự án đầu tư (báo cáo nghiên cứu khả thi) để trình QH xem xét, quyết định chủ trương đầu tư cụ thể. Khoản 2, Điều 8 của Nghị quyết này cũng có quy định tương tự.
Như vậy có thể nói việc quyết định đầu tư hay không CHKQT Long Thành cần phải qua 2 bước quyết định của QH:
- Bước 1: Quyết định chủ trương đầu tư chung.
- Bước 2: Quyết định chủ trương đầu tư cụ thể.
Để có thể có những nghiên cứu sâu hơn giúp cho việc ra quyết định đầu tư cụ thể đảm bảo tính khoa học, thực tiễn và tiết kiệm ngân sách xin kiến nghị QH xem xét ra quyết định chủ trương đầu tư chung; trên cơ sở đó giao Chính phủ xây dựng báo cáo nghiên cứu khả thi trình QH xem xét ra quyết định đầu tư cụ thể.
3. Đối với việc lập dự án đầu tư:
Kiến nghị có ít nhất một tổ chức có tư cách pháp nhân, có năng lực, có kinh nghiệm thực sự về tư vấn thiết kế xây dựng cảng hàng không, sân bay của Việt Nam tham gia vào dự án ngay từ lúc đầu.
4. Về tư vấn, phản biện, đánh giá dự án:
Mặc dù việc đầu tư xây dựng CHKQT Long thành là cần thiết, tuy nhiên, trong hiện trạng kinh tế, việc đầu tư cũng là một bài toán khó về mặt kinh phí. Để giúp cho quá trình xây dựng luận cứ chứng minh tính cần thiết của dự án, cần phải có tổ chức tư vấn có tư cách pháp nhân độc lập cả quốc tế và Việt Nam chính thức thẩm định một cách khách quan tính chính xác và khoa học của các luận cứ theo đúng quy định về quản lý đầu tư, xây dựng cơ bản của Nhà nước và đặc thù của việc xây dựng một CHKQT, nhất là một CHKQT trung chuyển mang đặc trưng của thế kỷ 21.
Để đánh giá và kết luận sau khi xem xét ý kiến của hai phía ( Bên lập dự án và bên tư vấn phản biện), Nhà nước cần có một tổ tư vấn độc lập để tư vấn cho nhà nước đánh giá thẩm định tính khách quan, đúng đắn của dự án. Tổ tư vấn này sẽ đưa ra kết luận cuối cùng trình Quốc hội phê duyệt dự án khả thi.
( Bàn thêm: 1.  CHKQT TC của thế kỷ 21 có đặc trưng gì?   Là trung tâm vận chuyển HK, trung tâm kinh tế, tài chính, trung tâm ngoại giao, buôn bán thương mại, trung tâm vui chơi giải trí, trung tâm văn hóa thể thao (nhà hát, nhà chiếu phim, sân bóng chuyền, bó rổ trong nhà…)…Là Trung tâm vận chuyển HK nó có thể thực hiện các dịch vụ vận chuyển quốc tế các loại hàng hóa HK tiếp nhận, phân phối kịp thời, chính xác hàng hóa, hành lý của hành khách theo các tuyến bay quốc tế theo tiêu chuẩn công nghệ đẳng cấp quốc tế.
2. Về cạnh tranh: HKVN đang sở hữu hàng trăm máy bay hiện đại và Vietnamairlines đã đặt mua 10 chiếc và thuê thêm 4 chiếc A350; Vietject đã đặt mua 100 máy bay A320; các hãng hàng  không nội địa khác cũng đang trên đà phát triển; Dịch vụ Quản lý bay của ta đã được đầu tư lớn trong nhiều năm qua lên ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới với các trung tâm điều hành bay hiện đại. Trong lúc đó ta chưa có một CHKQT TC ngang tầm với hàng không các nước trong  khu vực và trên thế giới. Đó là một sự phát triển thiếu đồng bộ của ngành HKVN.  Khu vực ĐNA là nơi phát triển mạnh mẽ vận tải HK trong thế kỷ 21. Vị trí địa chính trị Việt nam thuận lợi cho phát triển VTHK  nhưng chỉ có thể cạnh tranh cùng hàng không các nước khi tất cả các ngành KTQD cùng nâng cao năng lực cạnh tranh. Yêu cầu bức thiết của một Việt nam với 93 triệu dân phải có ít nhất một CHKQT TC để đáp ứng nhu cầu cạnh trạnh của nền kinh tế quốc dân nói chung và của HKVN nói riêng. Cần nhấn mạnh rằng CẠNH TRANH ở đây là yếu tố tổng hợp sức mạnh của toàn ngành trong đó có vai trò của CHKQT Long thành và cần phải có thời gian. Trước mắt nó phải làm tròn nhiệm vụ là sân bay dự bị cho CHKQT Tân sơn nhất, tạo sự đồng bộ trong nội bộ ngành HKVN và góp phần tăng năng lực cạnh tranh của toàn ngành HKVN.
3. Về tính hiệu quả: Cần lưu ý rằng hiệu quả hoạt động của CHKQT Long thành nói riêng và của toàn ngành HKVN nói chung nằm trong hiệu quả liên ngành.)
5. Hội KH&CN HKVN có đủ khả năng về mọi mặt tham gia các hoạt động tư vấn phản biện nếu được giao nhiệm vụ.
Hội KH&CN HKVN có 36 hội viên tập thể là các cơ quan, đơn vị chủ chốt trong ngành HKVN, không quân, công binh, các trường đại học, các viện nghiên cứu…Đó là những tập thể đã góp phần làm thay đổi diện mạo, tầm cỡ của ngành HKVN trong thời gian qua;  Gần 400 hội viên cá thể là các giáo sư, PGS, TS,Thạc sỹ, kỹ sư, cử nhân, cán bộ kỹ thuật, giảng viên, cán bộ quản lý đầu ngành trong cả nước…Hội đã từng là cơ quan tư vấn phản biện cho 2 dự án qui hoạch mạng CHK, SB Việt nam và các dự án đầu tư xây dựng các CHK, SB, các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong cả nước.
Như vậy: Hội Khoa học và công nghệ hàng không Việt nam là tổ chức xã hội nghề nghiệp tập hợp những tập thể và cá nhân có trình độ, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm và uy tín về tư vấn phản biện các qui hoạch, thiết kế, xây dựng, khai thác… CHK, SB trong cả nước của ngành HKVN; Hội có đủ khả năng về mọi mặt tham gia các hoạt động tư vấn phản biện nếu được giao nhiệm vụ. 
Do chưa nhận được tài liệu chính thức trước cuộc họp nên hội Khoa học và công nghệ HKVN có ý kiến sơ bộ ban đầu. Sau khi nhận được tài liệu chính thức và được giao nhiệm vụ cụ thể, Hội sẽ có ý kiến tham gia sâu hơn.
Trân trọng cám ơn sự hợp tác của Quí Ban.
HỘI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HÀNG KHÔNG VIỆT NAM                                                                                        Chủ tịch                                                            
               TS. TRẦN QUANG CHÂU
 
Phụ lục số 2: CÁC NHÓM ĐỀ TÀI CẦN NGHIÊN CỨU PHỤC VỤ DỰ ÁN LONG THÀNH
I.          Sự cần thiết xây dựng Cảng Hàng không quốc tế Long Thành, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ của cảng trên cơ sở so sánh với các càng không quốc tế trong khu vực và khả năng trở thành Long Thành trở thành cảng trung huyển quốc tế:
1.         Tiêu chí quy hoạch xây dựng CHKQT Long Thành
2.         Định tính và định lượng ưu điểm và nhược điểm của CHKQT Long Thành theo các tiêu chí
3.         Nghiên cứu chiến lược tối đa hóa mục tiêu trung chuyển quốc tế của CHKQT Long Thành
4.         Đánh giá các phương pháp và kết quả dự báo hành khách hàng hóa tiềm năng của CHKQT Tân Sơn Nhất,
5.         Đánh giá quy mô phục vụ cho CHKQT Long Thành
6.         Xây dựng các tiêu chí so sánh CHKQT Tân Sơn Nhất với các CHKQT trong khu vực. Thực trạng và tương lai.
7.         Nghiên cứu Dự báo các chức năng của CHKQT Long Thành
8.         Lượng hóa những thuận lợi và khó khăn của CHKQT Long Thành khi so sánh với các CHKQT khu vực
9.         Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí của CHK trung chuyển quốc tế
10.       Các giải pháp đồng bộ cho việc biến CHKQT Long Thành thành CHK Trung chuyển quốc tế khu vực
II.        Sự phù hợp với quy hoạch của Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành; tác động của Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành đối với các ngành kinh tế-kỹ thuật và đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước; đặc biệt là du lịch, công nghiệp hàng không và phát triển đô thị.
11.       Nghiên cứu đánh giá các kết nối với CHKQT Long Thành và đề xuất các giải pháp cần thiết nhằm nâng cao năng lực và an toàn phòng chống cháy nổ, khẩn nguy cứu nạn cho CHKQT Long Thành
12.       Nghiên cứu các phương án phối hợp sử dụng CHKQT Long thành với Tân Sơn Nhất, Biên Hòa và các CHK khác lân cận
13.       Nghiên cứu đánh giá tác động của CHKQT Long Thành đối với sự phát triển kinh tế xã hội khu vực và đất nước như du lịch, công nghiệp, hàng không, GDP v.v.. .
III.       Đánh giá về quy mô Dự án và phân kỳ đầu tư; về nhu cầu sử dụng đất, phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng.
14.       Nghiên cứu sử dụng hiệu quả quỹ đất giành cho CHKQT Long Thành trong giai đoạn quá độ
15.       Đánh giá các phương án phân kỳ đầu tư CHKQT Long Thành
16.       Đánh giá phân loại nhu cầu sử dụng đất CHKQT Long Thành
IV.       Về phương án lựa chọn công nghệ, kỹ thuật cho dự án, khả năng tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam.
17.       Ứng dụng công nghệ 3D trong quy hoạch tổng thể CHKQT Long thành
18.       Ứng dụng chương trình bán tự động thiết kế địa hình sân bay CHKQT Long Thành
19.       Nghiên cứu sơ đồ phân khu tầng phủ mặt đường sân bay hợp lý cho CHKQT Long Thành.
20.       Nghiên cứu quy trình cất hạ cánh tại CHKQT Long thành nhằm nâng cao năng lực CHC và an toàn bay.
21.       Nghiên cứu các giải pháp quản lý tĩnh không động cho CHKQT Long Thành nhằm nâng cao năng lực và an toàn cất hạ cánh cho CHKQT Long Thành.
V.         Về giải pháp bảo vệ môi trường.
22.       Nghiên cứu các giải pháp xanh bảo vệ môi trường đồng bộ tối ưu cho CHKQT Long Thành
23.       Nghiên cứu các quy trình vận hành máy bay nhằm tối ưu hóa số chỗ đỗ và tiết kiệm nhiên liệu
VI.       Về suất đầu tư các hạng mục và tổng mức đầu tư Dự án; về phương án huy động vốn, khả năng cân đối ngân sách và mức độ tác động đến nợ công khi thực hiện dự án, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án, khả năng trả nợ của dự án.
24.       Nghiên cứu tiến độ đầu tư hợp lý CHKQT Long Thành
25.       Nghiên cứu các giải pháp tối ưu huy động vốn xây dựng CHKQT Long Thành
26.       Suất đầu tư các hạng mục và tổng mức đầu tư Dự án
VII.      Vấn đề đảm bảo quốc phòng – an ninh quốc gia, phối hợp trong quản lý điều hành bay.
27.       Nghiên cứu các giải pháp tổng thể bảo đảm an ninh an toàn, phòng chống cháy nổ cho CHKQT Long Thành
28.       Nghiên cứu tối ưu hóa quá trình chuyển giao chức năng giữa CHKQT Long Thành và Tân Sơn Nhất
VIII.    Về các nội dung trong cơ chế đặc thù của Dự án.
29.       Nghiên cứu dự án sử dụng đất đai và các công trình hiện hữu trong phạm vi CHK và phạm vi ảnh hưởng của CHK  hiệu quả
30.       Các giải pháp và cơ chế huy động các doanh nghiệp trong nước tự bỏ kinh phí cho việc chuẩn bị đầu tư CHKQT Long Thành
31.       Vai trò của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài trong xây dựng và khai thác CHKQT Long Thành
32.       Căn cứ khoa học cho tổng tiến độ xây dựng CHKQT Long Thành và các hạng mục.
Tóm lại có 8 nhóm gồm 32 đề tài cần nghiên cứu để hỗ trợ cho triển khai dự án CHKQT TC Long thành.
Tác giả bài viết: Trần Quang Châu
Nguồn tin: Hội Khoa học & Công nghệ Hàng không
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết