Báo cáo kết quả của Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không VN trong 25 năm ( 1990 -:- 2015 )

Đăng lúc: Thứ năm - 19/03/2015 01:57 - Người đăng bài viết: admin
VAAST và các hội viên tập thể, hội viên cá nhân trực tiếp tham gia tư vấn phản biện nhiều nhiệm vụ quan trọng
Khách mời tham dự buổi lễ: GS.TSKH.VS. Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội KHKT VN, Ông Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN, Ông Lại Xuân Thanh, Cục trưởng cục HKVN

Khách mời tham dự buổi lễ: GS.TSKH.VS. Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội KHKT VN, Ông Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN, Ông Lại Xuân Thanh, Cục trưởng cục HKVN

BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG  CỦA HỘI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HÀNG KHÔNG VIỆT NAM  TRONG 25 NĂM ( 1990 -:- 2015 )
                                                        
                                                                
Kính thưa:    - Các quí vị đại diện các cơ quan Nhà nước, các đơn vị SXKD
                     - Các quí vị đại diện LHH, TH XDVN, các hội bạn
                     - Các cơ quan thông tấn báo chí, Các bạn !
          Trong 25 năm qua, cùng với những sự phát triển mạnh mẽ của ngành GTVT nói chung và ngành HKVN ( Cả dân sự và quân sự) nói riêng, Hội KH7CN HKVN đã có những tiến bộ vượt bậc về lượng cũng như về chất; về tổ chức cũng như về năng lực chuyên môn trên mọi lĩnh vực hoạt động theo chức năng nhiệm vụ của mình.
MỘT SỐ KẾT QUẢ NỔI BẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI TRONG 25 NĂM QUA
I. Các hoạt động tư vấn, phản biện xã hội:
 VAAST và các hội viên tập thể, hội viên cá nhân trực tiếp tham gia tư vấn phản biện nhiều nhiệm vụ quan trọng như:
1. Tư vấn phản biện các dự án, chương trình, chiến lược, kế hoạch dài hạn về phát triển ngành GTVT VN nói chung và ngành HKVN nói riêng, trong đó đặc biệt là lĩnh vực công trình HK.
2. Tham gia xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho sửa đổi Luật HKDDVN; cập nhật hồ sơ cho qui hoạch hệ thống CHK-SB Việt nam; xây dựng hệ thống các qui trình qui phạm, qui chế, định mức kinh tế kỹ thuật về qui hoạch, thiết kế, thi công, bảo trì, sửa chữa, khai thác, quản lý và phát triển mạng CHK-SB VN theo từng giai đoạn phù hợp với chiến lược phát triển  kinh tế và an ninh quốc phòng.
3. Tham gia tư vấn phản biện các luật và hệ thống văn bản dưới luật theo yêu cầu của Tổng hội xây dựng VN, Liên hiệp các Hội KH & KT VN và các cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nước. ( Luật xây dựng, luật lập hội …)
4. Tham gia phản biện các đề tài, dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở các cơ sở thuộc nhiều hạng ngạch khác nhau. ( Các CHK-SB, nhà ga, …)
5. Tư vấn cho các cơ quan , đơn vị trong việc hợp tác liên kết với các tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt nam: Với tập đoàn sản xuất máy bay IRKUT của Nga, tập đoàn sản xuất phụ tùng linh kiện máy bay KLUNE của Mỹ, Tập đoàn kinh tế VINAVIETNAM của Đài loan…
6. Các đơn vị hội viên tập thể đã có nhiều đề tài,  dự án cho các nhà đầu tư, các nhà thầu trong các dự án xây dựng công trình Hàng không.
7. Các hội viên tập thể, cá nhân đã tích cực viết bài cho các tạp chí, báo ( Tạp chí Khoa học và đời sống, Giao thông vận tải, Người xây dựng, Hàng không VN …) để tư vấn phản biện xã hội về cơ chế, chính sách, về hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật, qui trình qui phạm của ngành GTVT nói chung và ngành HKDD VN nói riêng, đặc biệt là lĩnh vực công trình HKVN.
Có thể nói rằng Hội VAAST vượt qua nhiều khó khăn, đóng góp vô tư, khách quan, khoa học trong công tác tư vấn và phản biện xã hội góp phần công sức nhỏ bé của mình vào sự nghiệp phát triển ngành HKVN
II. Các hoạt động nghiên cứu khoa học.
   VAAST và các hội viên đã đề xuất nhiều ý tưởng và định hướng cho công tác nghiên cứu khoa học trên qui mô cả nước trong các lĩnh vực: Từ quản lý Nhà nước, quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý hoạt động bay, cảng HK- SB đến vận tải hàng không, môi trường, và các vấn đề khác liên quan như nghiên cứu nâng cao năng lực bảo dưỡng sửa chữa máy bay của HKVN; Hình thành nền công nghiệp HKVN; Xây dựng qui chế quản lý xây dựng cảng HK-SB; Các hệ thống qui trình, qui phạm, định mức kinh tế kỹ thuật ngành HKVN; Điều tra xử lý môi trường HK; Qui hoạch hệ thống cảng HK-SB phục vụ công tác tìm kiếm cứu nạn quốc gia;  Nghiên cứu, điều tra ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với các công trình GTVT VN ...Nhiều phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, cải tiến phương pháp quản lý từ cơ sở đã góp phần đẩy mạnh sản xuất.
Một số nhiệm vụ lớn do Hội trực tiếp chủ trì nghiên cứu triển khai như:
  1. Đề tài :” Nghiên cứu những cơ sở lý luận xây dựng Luật HKDDVN” Năm 1990
  2. Tư vấn, phản biện dự án quy hoạch mạng CHK, SB dân dụng toàn quốc (1992-1997), sau đó tham gia dự án điều chỉnh mạng CHK- SB do công ty AEC chủ trì( 2005).
  3. Đổi mới cơ chế, tô chức quản lý nhà nước ngành HKDDVN trong nền kinh tế thị trường.(1992-1995)
  4. “Qui hoạch khai thác, quản lý vùng trời HKDDVN đạt hiệu quả cao và phối hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược: Kinh tế- quốc phòng.(1996-1997)
  5. Qui hoạch hệ thống thông tin điện tử ngành hàng không dân dụng VN.(1996-1997)
  6. Nghiên cứu xây dựng kế hoạch công tác bảo vệ môi trường ngành HKDDVN và đề xuất triển khai 3 trung tâm quan trắc xử lý MTHK tại 3 miền.(1998)
  7. Nâng  cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty HKVN. (1997-1998)
  8. “Nghiên cứu, điều tra, khảo sát nhu cầu và tính khả thi của việc ứng dụng kỹ thuật Hàng không (máy bay nhỏ) phục vụ phát triển kinh tế xã hội kết hợp với an ninh quốc phòng tại thành phố Hồ Chí Minh và vùng lân cận”. (1996-1999)
  9.  Nghiên cứu triển khai đề tài do Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam giao:  “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ quy hoạch hệ thống sân bay cho công tác tìm kiếm cứu nạn ở Việt Nam”. Đề tài đã được nghiệm thu loại khá cuối năm 2009.
  10. Hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu do Bộ tài nguyên môi trường giao: “Đánh giá tác động biến đổi của khí hậu đối với ngành giao thông vận tải và xây dựng các biện pháp thích ứng với các kịch bản biến đổi khí hậu trong lĩnh vực giao thông vận tải của Việt nam trong khuôn khổ dự án “ Việt nam: Chuẩn bị thông báo quốc gia lần thứ hai cho UNFCCC.
  11.  Các hội viên tập thể, cá nhân của Hội đã chủ trì biên soạn một số tiêu chuẩn cơ sở đã được Cục HK ban hành như: Tiêu chuẩn sân bay Trực thăng dân dụng Việt Nam, Quy trình thiết kế mặt đường sân bay, Quy trình duy tu bảo dưỡng sân bay v.v...
  12. Hoàn thành đề tài nhánh của Viện KHXD chủ trì về xây dựng “Qui chuẩn xây dựng công trình giao thông “ phần công trình HKDDVN.
  13.  Biên soạn chuyển đổi “Tiêu chuẩn sân bay dân dụng Việt nam” thành tiêu chuẩn quốc gia (TCVN). Bản thảo “Tiêu chuẩn sân bay dân dụng Việt nam” đã được hoàn thành đang xin ý kiến các cơ quan chức năng để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trong năm 2010.
  14.  Triển khai đề tài của Sở KH & CN Tp Hà Nội : “Nghiên cứu thiết kế và chế thử xuồng Thuỷ - khí động lực hoạt động ở vùng đầm lầy, nước nông”.
  15.  Viện KH&CN hàng không của Hội ở Tp HCM hoàn thành đề tài sử dụng chất kết dính SA44 của Mỹ vào xây dựng đường tuần tra biên giới tỉnh Bình phước; Đã nhập thêm 02 bộ thiết bị thi công đường bê tông loại mới hiện đại của Ý. Nghiên cứu chế tạo gạch không nung theo phương pháp ĐẤT HÓA ĐÁ.
  16. Công ty Việt - Nhật, hội viên tập thể của Hội đã nghiên cứu sản xuất và đưa vào ứng dụng các phụ gia bê tông xi măng loại mới phục vụ cho xây dựng CHK, SB, đường bộ, các công trình dân dụng và quân sự...
  17.  Đề án tư vấn phản biện qui hoạch phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao…
  18.  Đề án tư vấn phản biện qui hoạch phát triển GTVT HK đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
  19.  Hàng loạt các phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, các đề tài cấp cơ sở khác mà các đơn vị thành viên của hội đã thực hiện trong nhiệm kỳ qua là rất nhiều trong đó có phần tham gia đóng góp của Hội.
  Hàng năm VAAST đã chủ động đề xuất hàng chục đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu quan trọng các cấp để trình cơ quan có thẩm quyền xem xét cho những năm tới.
Công tác nghiên cứu khoa học của VAAST thực sự đã đi vào nền nếp, đang khởi sắc và hướng tới sản xuất sản phẩm mới có hàm lượng chất xám cao phục vụ phát triển kinh tế và an ninh  quốc phòng.
III.  Các hoạt động đào tạo, thông tin và dịch vụ KHCN.
Hội đã mở rộng hoạt động trong công tác đào tạo, thông tin và dịch vụ KHCN:
1. Phối hợp tốt với Đại học giao thông vận tải Hà nội tổ chức, duy trì các lớp đại học tại chức ( 02 lớp ngành đường ô tô và sân bay, 02 kinh tế vận tải hàng không và 01 lớp hoàn chỉnh kiến thức liên thông từ cao đẳng lên Đại học ngành đường ô tô và sân bay  với tổng số 300 sinh viên).
2. Phối hợp với Vụ khoa học công nghệ Bộ giao thông vận tải mở lớp đào tạo nhân viên thí nghiệm và kiểm định vật liệu và công trình giao thông tại thành phố HCM. Viện KH&CN HK đã mở được 10 lớp thí nghiệm viên với tổng số 300 học viên đã được cấp chứng chỉ.
3. Hội đã sớm có trang WEB của mình để phục vụ cho mọi hoạt động chuyên môn và làm phương tiện thông tin chính cả trong nước và quốc tế. VACA đã dùng trang WEB của mình để quảng bá, giới thiệu về năng lực chuyên môn của các đơn vị thành viên và tổ chức của Hội, cung cấp thông tin mới về KH&CN HK cho xã hội. Từ ngày có trang WEB  mọi hoạt động của hội và mối quan hệ giữa các hội viên trở nên gần gủi, gắn bó hơn.
 Hội có chủ trương trước mắt tập trung đào tạo những chuyên ngành mà Việt nam ta còn thiếu nguồn nhân lực và tham gia phong trào giáo dục cộng đồng về HK.
IV.  Hoạt động hợp tác quốc tế, hội nghị, hội thảo và hoạt động khác.
1.Trong 25 năm qua Hội đã cùng với các tổ chức và cá nhân nhân trong, ngoài nước tổ chức thành công nhiều hội thảo khoa học. Các cuộc hội thảo với sự hợp tác của đại diện các nước như: Nga, Mỹ, Pháp, Trung Quốc, Đài Loan, Đức, Ấn Độ...do Hội tổ chức đều được triển khai theo đúng qui định của Nhà nước và đã cung cấp nhiều thông tin phong phú, kịp thời, bổ ích về khoa học công nghệ mới và tăng cường hợp tác, trao đổi giao lưu giữa các nhà khoa học, các nhà quản lý của Việt Nam với quốc tế. Đó là: Các hội thảo quốc tế về :
” Nghiên cứu chế tạo máy bay không người lái”; “Gia công chế tạo các vật tư, phụ tùng máy may theo công nghệ đúc của Mỹ”; Phối hợp với tập đoàn tài chính Đài Loan hội thảo về: ” Huy động vốn từ nhiều nguồn cho sản xuất của doanh nghiệp”; Các hội thảo trong nước về: “ Chế tạo và ứng dụng khí cầu liên động”; Qui hoạch CHK-SB cho công tác tìm kiếm cứu nguy, cứu nạn Việt Nam”…
2. Mục tiêu quan trọng của các hội nghị, hội thảo quốc tế của Hội là nhằm tạo ra những liên doanh, liên kết  với nước ngoài để SXKD trong tương lai.
 3. Hội có một bước tiến mới trong hoạt động chính trị xã hội là đã thành lập được  chi bộ  Hội; Chi bộ Viện KH&CN HK ; Các đoàn thể quần chúng như Đoàn thanh niên, phụ nữ  tạo điều kiện cho mọi thành viên gắn bó mật thiết với đơn vị.
V.      i nét vê hoạt động của các hội viên:
1. Hoạt động của Viện KH&CN HK ( Viện ):
      Từ ngày được đổi tên đến nay Viện đã đi vào nền nếp và đã từng bước phát triển toàn diện. Hiện nay Viện đã có một cơ sở vật chất gồm có 01 phòng thí nghiệm chính ở trụ sở và 04 phòng thí nghiệm tại hiện trường công trình: Lâm Đồng, Đồng Nai, Gia Lai, Đồng Tháp.
  Cuối năm 2008 Viện được cấp chứng nhận tiêu chuẩn ISO 9001-2008 cho mảng tư vấn, giám sát thi công và thí nghiệm kiểm định chất lượng công trình.
    Từ đầu 2009 Viện đã thành lập Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ xây dựng. Tính đến nay đã đào tạo được 11 khóa với hơn 300 học viên đã được cấp chứng chỉ.
   Viện đã triển khai nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, nhập khẩu 02 trạm trộn bê tông theo công nghệ mới của Ý. Hoạt động Viện đã được sở KH&CN Tp HCM đánh giá cao và thực tế uy tín và thương hiệu của Viện ngày càng được khẳng định.
2. Hoạt động của trung tâm ABCC:
          Trung tâm ABCC được củng cố, thúc đẩy hoạt động và đã thực hiện được một số nhiệm vụ như: Kết hợp với khoa tại chức, trường đại học GTVT Hà nội tổ chức tuyển sinh, quản lý đạo tạo được  05 lớp với hơn 300 sinh viên. Hiện đã có ba lớp tốt nghiệp.
     Tham gia triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học, tổ chức và giúp hội triển khai các hội nghị, hội thảo, các cuộc làm việc của BCH Hội, các đoàn khách quốc tế… Trung tâm ABCC là chỗ dựa trong các công tác hành chính quản trị của văn phòng Hội.
   3. Hoạt động của các hội viên tập thể: Chúng ta chưa có điều kiện để nêu lên một cách đầy đủ các hoạt động của các hội viên tập thể trong thời gian qua trên mọi lĩnh vực. Đó là những tập thể có nhiều đóng góp rất lớn lao cho một diện mạo mới của ngành hàng không Việt Nam nói riêng và cho đất nước nói chung. Trong đó phải kể đến: Công ty ACC “đơn vị anh hùng trong thời kỳ đổi mới”, Công ty tư vấn khảo sát thiết kế hàng không ADCC, công ty CP xuất nhập khẩu hàng không (AIRIMEX), công ty CP tư vấn xây dựng và dịch vụ hàng không (AEC), công ty CP xây dựng công trình HKVN, Tổng công ty Thành an (B11), Cụm cảng HKSB miền Bắc, Viện khoa học hàng không VN, Trung tâm kỹ thuật các công trình đặc biệt của bộ quốc phòng; Bộ môn cầu đường sân bay của học viện kỹ thuật quân sự, công ty Lũng lô, Bộ môn đường ô tô và sân bay của trường đại học GTVT Hà nội, Phòng đường bộ và sân bay (nay là Viện) của Viện KH và CN Giao thông vận tải; Viện khoa học và công nghệ HK của Hội ở tp HCM; Trung tâm ABCC của Hội ở Hà nội, bộ môn thủy khí trường đại học Bách khoa Hà nội  v.v...
 4. Các hội viên cá nhân của hội là cả một đội ngũ các nghiên cứu viên, giáo viên, kỹ thuật viên, các nhà quản lý… có uy tín trong các trường đại học, các viện nghiên cứu, các trung tâm đào tạo, các tổ chức huấn luyện nghiệp vụ, các cơ quan và doanh nghiệp; Là lực lượng chất xám chủ yếu trong các cơ quan quản lý, các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, các đơn vị SXKD trên lĩnh vực nghiên cứu, tư vấn, đào tạo về thiết kế, thi công, bảo trì, sửa chữa, quản lý, khai thác công trình Hàng không và các lĩnh vực liên quan trong cả nước.
    5. Nhìn chung: Hoạt động của các hội viên tập thể và cá nhân trong nhiều lĩnh vực, nhiều vị trí khác nhau trong cả nước là cơ sở, nền tảng, là lực lượng vật chất chủ yếu tạo nên hậu phương vững chãi cho mọi hoạt động của Hội. Các hội viên tập thể đã hỗ trợ Hội rất nhiều trong mọi hoạt động. Có những đơn vị đã tài trợ hội tổ chức hội nghị, hội thảo như Công ty ACC, Tổng công ty Thành an, bộ môn đường bộ-sân bay của Học viện kỹ thuật quân sự, Công ty Airimex, đặc biệt công ty ACC còn cho mượn nhà làm văn phòng hội; công ty cổ phần vận tải ô tô tạo điều kiện cho Hội thuê văn phòng thuận lợi …
 Có những ủy viên BCH đã giành thời gian, trí tuệ và công sức của mình tận tụy với công việc hội như PGS.TSKH. Đỗ Nguyên Khoát, Thạc sỹ Phạm Doãn Hồng, GS.TS Nguyễn Xuân Đào, Thiếu tướng - kỹ sư Bùi Vinh; Đại tá-kỹ sư  Hùng; Đại tá-TS Nguyễn Bách Tùng, Cử nhân Quách Thử, Kỹ sư Nguyễn Chính Đạo; Có ủy viên BCH dù đã ngoài 76 tuổi vẫn hăng hái trong công tác triển khai nghiên cứu đề tài của Hội như TS Nguyễn Hải; Có những Hội viên còn đương nhiệm nhưng đã tranh thủ thời gian đóng góp nhiều công sức cho hoạt động của Hội như GS.TS Phạm Huy Khang; GS Phạm Cao Thăng; PGS.TS. Lê Quang, Thạc sỹ Đỗ Hồng Trường, Cử nhân Phạm thị Thu Thủy,…
    Sự đóng góp, giúp đỡ vô tư, nhiệt tình đó vừa nói lên tâm huyết xây dựng Hội của các vị đó vừa là sự động viên khích lệ rất lớn đối với mọi chúng ta phấn đấu xây dựng Hội ngày càng phát triển vững mạnh. Chúng ta có quyền tự hào chính đáng về những thành tích mà các hội viên tạp thể, các hội viên cá nhân của Hội đã đạt được trong 25 năm qua. Đó là những đóng góp quí báu vào hành trang của Hộitrên con đường xây dựng và phát triển trong tương lai.
VI. Công tác tổ chức:
1. Củng cố và phát triển Hội:
Trong 25 năm qua công tác tổ chức của Hội đã có những tiến bộ rõ nét và vững chắc theo thời gian. Ban lãnh đạo Hội đã chú trọng việc củng cố và phát triển tổ chức. BCH duy trì hoạt động đều đặn, có chất lượng. Đa số các ủy viên đều hăng hái, nhiệt tình và tâm huyết với hoạt động của Hội, kể cả các ủy viên đang làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Nhà nước hoặc doanh nghiệp. Căn cứ vào tình hình hoạt động, sau một thời gian lãnh đạo hội đã rà xét miễn nhiệm một ủy viên BCH, bổ sung thêm các ủy viên BCH, đưa tổng số ủy viên BCH lên 51 người. Nâng cấp trung tâm ACSC thành Viện khoa học & công nghệ HK; Củng cố trung tâm ABCC; Thành lập mới: Trung tâm quản lý khoa hoạc công nghệ và môi trường trực thuộc hội; thành lập Hội đồng khoa học công nghệ Hội; thành lập 7 Ban chuyên môn …với 35 hội viên tập thể và gần 400 hội viên cá nhân là những cán bộ chuyên môn đầu đàn trên tất cả các lĩnh vực của ngành HKVN.
2. Tăng cường mối quan hệ với các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị cơ sở
    Lãnh đạo hội đã làm việc trực tiếp với lãnh đạo cục HKVN, bộ tư lệnh không quân, công binh, các cơ quan chức năng của bộ GTVT, LHH KHKT VN, tổng hội XDVN, làm việc trực tiếp với một số hội viên tập thể chủ chốt của Hội để trao đổi tình hình công tác và rút kinh nghiệm trong hoạt động. Trong năm 2014 Hội đã cung Cục HKVN ban hành qui chế phối hợp hoạt động giữa Cục và Hội, ký văn bản lam việc với lãnh đạo Tổng công ty Quản lý bay, Tổng công ty ACV…
Nhờ đó sự gắn bó của Hội với các cơ quan đơn vị trong ngành ngày càng chặt chẽ, vai trò, vị trí của Hội có từng bước được nâng cao.
VII. Những hạn chế :  Hoạt động của VAAST vẫn còn nhiều hạn chế:
1. Sự gắn kết của Hội với các cơ quan nhà nước, các đơn vị cơ sở; mối quan hệ giữa các hội viên tập thể và cá nhân vẫn còn chưa thật mật thiết và chặt chẽ nên chưa phát huy hết sức mạnh tiềm năng và sức mạnh tổng hợp của Hội. Vẫn còn nhiều khó khăn trong việc thực hiện các nhiệm vụ tư vấn & phản biện xã hội và các nhiệm vụ khác nói chung do nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan cần được tháo gỡ.
2. Hội hoạt động hoàn toàn bằng nguồn kinh phí tự trang trải, cho đến nay mọi hoạt động của Hội còn nhiều hạn chế do thiếu kinh phí cần thiết. Đây là yếu điểm lớn nhất cần khắc phục nhanh chóng trong năm 2015.
3. Nguyên nhân của những hạn chế trên là:
a. Mặc dù chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các Hiệp Hội nhưng vẫn còn những bất cập trong đổi mới tư duy, trong quan niệm và hành xử của các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp về tầm quan trọng của công tác tư vấn, phản biện xã hội. Do đó sự ủng hộ, phối hợp, giúp đỡ còn hạn chế.
b. Về chủ quan: Hội viên của Hội còn thể hiện sự thiếu gắn kết, kiên trì, nhẫn nại tìm tòi, phát hiện những vấn đề vướng mắc từ thực tiễn để có đề xuất kịp thời theo yêu cầu cuộc sống. Sự phối hợp hiệp đồng, hợp tác, thông cảm và sẻ chia giữa Hội với các hội viên và giữa các hội viên với nhau còn thiếu chặt chẽ thường xuyên.
VIII. Các công tác khác
1. Công tác thi đua khen thưởng:
Trong dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập, Hội đã nhận được bằng khen của Tổng hội Xây dựng Việt nam, bằng khen của Liên hiệp các Hội KHKTVN; Có 20 hội viên cá nhân được nhận huy chương vì sự nghiệp các hiệp hội KHKT. Các đơn vị thành viên đều nhận được nhiều phần thưởng của các Bộ, ngành, cơ quan chủ quản trong dịp tổng kết thi đua hàng năm.
Trong dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Tổng hội XDVN, TH đã tặng bằng khen cho Hội và 7 hội viên tập thể, 15 hội viên cá nhân được tặng huy hiệu vi sự nghiệp phát triển các Hội KHKT.
Năm 2014 Hội được Chính phủ tặng Băng khen; Liên hiệp các hội KHKT VN tặng ba(`ng bằng  khen cho Hội, 8 hội viên tập thể và 11 hội viên cá nhân.
Nhân dịp 25 năm thành lập Hội, Hội đã xét tặng bằng khen cho 9 hội viên tập thể và  34 hội viên cá nhân.
                  X. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Hội phải có các đơn vị trực thuộc làm kinh tế thì mới có kinh phí hoạt động. Đó là các tổ chức tư vấn, dịch vụ KHCN, các trung tâm với hình thức tổ chức và tên gọi phù hợp, có cán bộ chủ chốt, nhất là người đứng đầu có năng lực, đạo đức và uy tín nghề nghiệp, có nhiệt huyết và sức khỏe tốt, biết tổ chức kết hợp hài hòa giữa cán bộ chính nhiệm và kiêm nhiệm, cộng tác viên từ nhiều lứa tuổi khác nhau, hoạt động nghiêm túc, lâu dài và có hiệu quả. Đây cũng chính là nơi thu hút chất xám, phát triển hội viên, hình thành môi trường thuận lợi để tạo ra các lợi ích thiết thực, trực tiếp cho họ và cho Hội.
2. Các cơ quan của trung ương Hội cần có thêm các cán bộ chủ chốt trẻ, khỏe, nhiệt tình, tâm huyết, uy tín, có thời gian giành cho Hội… để thu hút, quần tụ được mọi người hăng hái vì công việc của Hội. Ở các hội viên tập thể cần có cán bộ chuyên trách công tác Hội. Cả hai phía cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, sử dụng mạng internet để trao đổi thường xuyên các thông tin về Hội, về chuyên môn, nghiệp vụ, thị trường, giá cả, kỹ thuật mới, công nghệ mới… nhằm tạo ra sự gắn kết nghề nghiệp chặt chẽ thường xuyên trong toàn Hội. Từ đó tạo ra công việc cho Hội và các hội viên hoạt động nhằm mang lại hiệu quả kinh tế.
3. Nâng cao vai trò trách nhiệm của Hội đồng KHCN của Hội để giải quyết các vấn đề nóng, bức xúc trong Ngành một cách kịp thời, khách quan, khoa học nhằm tư vấn phản biện xã hội có uy tín và hiệu quả hơn nữa. Tổ chức các ban giúp việc, ban chuyên môn phải thiết thực và có qui định chức năng nhiệm vụ rõ ràng, duy trì hoạt động nghiêm túc.
PHẦN THỨ HAI
PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI TRONG THỜI GIAN TỚI.
Đảng, Nhà nước đã có những chủ trương, đường lối quyết tâm đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các Hội KHKT VN; Liên hiệp Hội, Tổng hội XDVN cũng đã có những phương hướng hoạt động mới mẻ và sự quan tâm giúp đỡ Hội. Các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là cục HKVN đã làm việc với lãnh đạo Hội và đã có đánh giá tốt vai trò của Hội trong thời gian qua. Sự nghiệp phát triển ngành Hàng không nước ta, khu vực và thế giới đang có nhiều hứa hẹn tốt đẹp về một môi trường sôi động đang chờ sự đóng góp trí tuệ và công sức của Hội trong nền kinh tế trí thức.
I.       MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG
1.       Mục tiêu.
Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động theo tinh thần chỉ thị số 42-CT/TW của Bộ chính trị, nghị quyết đại hội của LHH, theo chức năng nhiệm vụ, cương lĩnh điều lệ Hội, xây dựng Hội trí tuệ, đoàn kết,  đổi mới và phát triển; Nâng cao vị thế của Hội trong ngành HKVN và  trong ngoài ngành GTVT VN và với quốc tế.
2.       Phương hướng
 Tiếp tục củng cố, phát triển tổ chức; Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Hội thheo hướng trẻ hóa đội ngũ, có bản lĩnh, trình độ, năng lực, tâm huyết, nhiệt tình với công việc của Hội. Đặc biệt là các thành viên trong ban thường vụ, ban thường trực, các cán bộ phụ trách văn phòng, các ban, các bộ môn, cán bộ các đơn vị. Bám sát nhiệm vụ của ngành, nâng cao chất lượng công tác tư vấn, phản biện xã hội, nghiên cứu triển khai, đào tạo và dịch vụ KHCN; Tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học theo hướng ưu tiên những đề tài thiết thực phục vụ sản xuất và đời sống xã hội. Tăng cường hoạt động xã hội gắn với nghề nghiệp để mang lại lợi ích thiết thực cho Hội và các hội viên qua đó gắn bó chặt chẽ các hội viên với nhau và với Hội, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
II.      NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1.       Tiếp tục củng cố và phát triển tổ chức.
a.       Rà soát lại danh sách hội viên tập thể cũng như cá nhân; Cập nhật thông tin về các hội viên cho chính xác và thực hiện chế độ báo cáo theo qui định.
b.       Củng cố, sắp xếp, bố trí cán bộ phù hợp với công việc, phân công trách nhiệm cá nhân cho rõ ràng, rành mạch từng phần việc của Hội.
c.       Có chế độ định kỳ việc gặp gỡ, trao đổi thường xuyên giữa lãnh đạo hội với lãnh đạo các cơ quan Nhà nước liên quan, với các hội viên tập thể …nhằm rút kinh nghiệm kịp thời và tạo ra công việc, cơ hội cho Hội và các hội viên tập thể .
d.       Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các điều lệ, qui chế của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo hướng thông thoáng nhưng rõ ràng trách nhiệm, nhất là trách nhiệm đóng góp kinh phí xây dựng hội theo đúng qui định của điều lệ Hội.Triển khai nghiêm túc qui chế phối hợp giữa Cục HKVN và Hội vừa ký năm 2014.
2.Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tư vấn, phản biện xã hội và dịch vụ kỹ thuật:
a.       Tích cực tìm hiểu, nắm bắt tình hình, nhiệm vụ liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ để phát hiện, đề đạt kịp thời các nhiệm vụ tư vấn, phản biện các chủ trương, chính sách, các dự án lớn nhỏ; các hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong ngành HKVN, GTVT để các cơ quan Nhà nước giao việc cho Hội hoặc các đơn vị thành viên.
b.       Tăng cường trao đổi thông tin giữa các Hội viên, tổ chức các bộ môn chuyên sâu, nâng cao vai trò của hội đồng KHCN Hội để các vấn đề chuyên môn liên quan được giải quyết có chất lượng chuyên môn cao, kịp thời góp phần giúp các cơ quan, đơn vị tháo gỡ vướng mắc trong quản lý và sản xuất kinh doanh.
c.       Đẩy mạnh dịch vụ kỹ thuật và đào tạo theo hướng tạo ra một vài nghề mới nhằm tạo ra sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, hiệu quả kinh tế lớn. ( Ví dụ: Tổ chức sản xuất “ xuồng thủy khí ” theo hướng liên doanh liên kết, thực hiện các dịch vụ kỹ thuật phục vụ SXKD; Tổ chức dạy nghề; dịch vụ tư vấn…)
 Trong nhiệm kỳV (2015-2020) phải ưu tiên đẩy mạnh các hoạt động đào tạo và dịch vụ kỹ thuật tạo nguồn thu hợp pháp, hợp lý đủ để trang trải và có tích lũy cho hoạt động của Hội.
2.       Đẩy mạnh hoạt động KHCN và hợp tác quốc tế.
a.       Phát huy thành tích nghiên cứu KHCN trong thơi gian qua, tích cực đăng ký các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu các cấp theo đúng qui dịnh, kịp thời hạn, sát thực tế quản lý , SXKD và chú trọng nâng cao chất lượng nghiên cứu, tăng cường công tác quản lý việc triển khai nhằm đạt mục tiêu, đúng qui định Nhà nước, đúng tiến độ và có chất lượng, hiệu quả kinh tế cao.
b.       Tập hợp rộng rãi đội ngũ trí thức trong ngoài ngành có chuyên môn, nghiệp vụ cao để tiếp tục xây dựng các hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật, qui trình qui phạm các cấp  cho ngành HKVN.
c.       Tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề về KH&CN Hàng không nhằm trao đổi, phổ biến, tiếp thu các công nghệ mới, kỹ thuật mới.
d.       Đẩy mạnh thông tin khoa học công nghệ; Tăng cường công tác đào tạo, đặc biệt là các lĩnh vực ngành HKVN đang rất cần ( Ví dụ như: Kỹ thuật viên, tiếp viên, người lái, tin học, quản lý…)
e.       Mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường quan hệ với các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực hàng không và các ngành nghề liên quan. Hoàn thiện thiết kế và tổ chức khai thác tốt trang WEB của hội thành tờ tin điện tử về KH&CN HKVN làm phương tiện thực hiện thắng lợi các nội dung nêu trên và đẩy mạnh mọi hoạt động của Hội.
3.Gắn bó chặt chẽ với các hội viên tập thể, nâng cao hiệu quả hoạt động của  toàn Hội.
a.       Trao đổi thường xuyên về hoạt động chuyên môn, thị trường, năng lực thực tế … giữa các hội viên tập thể nhằm nâng cao sự thông cảm, hiểu biết giúp đõ lẫn nhau để tăng năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế của các Hội viên tập thể và toàn Hội.
b.       Lãnh đạo Hội phải nắm chắc đầy đủ thông tin về đội ngũ các chuyên gia trên từng lĩnh vực để tư vấn việc chia sẻ, hợp tác chuyên gia trong công việc chuyên môn giữa các hội viên tập thể có hiệu quả cao.
c.       Hội phấn đấu là cầu nối thực sự quan trọng giữa các cơ quan nhà nước, các cơ quan của Liên hiệp hội và các hội viên tập thể cũng như giữa các hội viên với nhau và với các Hội bạn.
3.       Chủ động đóng góp ý kiến tư vấn, xây dựng giúp các cơ quan Nhà nước đồng thời tranh thủ sự chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi của cơ quan Nhà nước và Liên hiệp các hội KHKT VN.
  Hàng năm lãnh đạo Hội sẽ chủ động đăng ký làm việc với lãnh đạo Cục HKVN, Bộ tư lệnh PKKQ;  các cơ quan Nhà nước liên quan và với LHH, Tổng hội XDVN để xin ý kiến chỉ đạo; Đồng thời có kiến nghị, đề xuất những nhiệm vụ, những vấn đề cần thiết để các cơ quan giao cho Hội làm nhiệm vụ tư vấn, phản biện xã hội.
TS. Trần Quang Châu, Chủ tịch Hội.
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết